vanban.org

Bản án 75/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Nguyễn Đức H; Sửa ản án sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt Nguyễn Đức H 07 ( ảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Nguyễn Đức H; Sửa ản án sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HS-PT
Ngày: 16/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Ngân

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền

Ông Hồ Đức Quang.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 37/2023/TLPT-HS ngày 17/3/2023 đối v i ị cáo Nguyễn Đức H, do có kháng cáo của ị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2023/HSST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Đức H; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/3/1972 tại xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức E (đã chết) và à Nguyễn Thị Huyền H1; Có vợ: Nguyễn Thị M và có 04 con, l n nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ị áp dụng iện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” và “tạm hoãn xuất cảnh”; Có mặt tại phiên toà.

- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị: Nguyễn Sỹ C; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15/9/1981 tại xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Vắng mặt.

Những người khác không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 24/11/2022, trong quá trình ngồi chơi tại nhà Nguyễn Sĩ C1, Nguyễn Đức H gọi điện thoại cho anh Nguyễn Tấn M1 (sinh năm 1973, trú tại thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh) hỏi:Anh có đi làm không, không đi làm thì ta đi uống rượu. Anh M trả lời: Đang ở nhà, trời mưa không đi làm và không đi uống rượu. Lúc này, H biết được anh M không đi làm đang để các dụng cụ xây dựng tại Trường tiểu học và Trung học cơ sở V thuộc tổ dân phố 4, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của anh M. Hà nói v i C1: Đi ra Trường tiểu học và Trung học cơ sở V lấy trộm cuộn dây điện và có mấy cái máy lấy được thì ta lấy. C1 đồng ý. H nói tiếp: Lấy bao bì để mà đựng tài sản lấy trộm. C1 đi vào nhà ếp lấy một ao ì xác rắn màu đỏ rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WAIT, số loại Wave, đăng ký iển kiểm soát 49S1-066.21 (nhưng không gắn iển kiểm soát lên xe do ị hỏng) chở H đi đến Trường tiểu học V. Khi đến trư c cổng trường, H nói C1 điều khiển xe mô tô đến khu vực nhà ếp đang xây dựng được ao quanh ằng tôn, H xuống xe mở dây thép và kéo cửa tôn ra. Cả hai cùng đi vào bên trong, C1 đi t i giữa thềm nhà ếp lấy 01 cuộn dây điện màu vàng loại 2.5 dài 49,7m; 01 máy cưa đĩa loại Makita M5801, công suất 1050W; 01 máy cắt cầm tay GAOKE, một máy khoan, đục KAINUO, công suất 800W; 01 máy khoan, ắn vít cầm tay M2 và 01 máy ơm NTP PUMP, loại chìm hút nư c, công suất: 1 HP ỏ vào ao ì xác rắn (được mang theo sẵn), còn H lấy 01 cuộn dây điện a pha màu trắng, dài 28m ỏ vào ao ì xác rắn C1 đang cầm. Sau đó, Chinh ê ao ì xác rắn chứa các tài sản trộm được đưa ra để trên giá giữa xe mô tô, H lấy một cuộn ống nhựa màu nâu ở khu vực ể ơi đưa ra để trên ao ì xác rắn ở trên xe mô tô, rồi tiếp tục lấy 02 thanh thư c nhôm xây dựng, dài 02m đi ra thì C1 điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau cầm 02 thanh thư c nhôm để trên vai đi về nhà C1 cất giấu. Đến tối ngày 26/11/2022, H đến nhà C1 nói: Sơn lại xe mô tô, tránh bị phát hiện. C1 nói: Nhà không có sơn. H trả lời: Ở nhà có 02 hộp sơn để trên sập gỗ ở thềm, sáng mai qua đó lấy. Sáng ngày 27/11/2022, C1 đến nhà H lấy 02 hộp sơn đưa về nhà, tháo phần ốp nhựa thân xe mô tô nói trên ra, sơn màu vàng lên chắn ùn trư c và phần khung sắt của xe mô tô; đồng thời sơn màu đỏ lên phần nhựa của máy cắt cầm tay GAOKE; máy khoan, đục KAINUO; máy khoan, ắn vít cầm tay M2. Đến sáng ngày 01/12/2022, lo sợ ị phát hiện nên Nguyễn Đức H và Nguyễn Sĩ C1 đưa các tài sản lấy trộm nói trên đến nhà trả cho anh Nguyễn Tấn M1.

Tại ản Kết luận định giá tài sản số 18/KL-ĐGTS ngày 07/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã H, xác định: 01 máy ơm NTP PUMP, loại chìm hút nư c, công suất 1HP, trị giá 800.000 đồng; 01 máy khoan, đục KAINUO, công suất 800W (vỏ nhựa sơn màu đỏ) trị giá 500.000 đồng; 01 máy khoan, ắn vít cầm tay M2 (vỏ nhựa sơn màu đỏ) trị giá 250.000 đồng; 01 máy cắt cầm tay GAOKE (vỏ nhựa sơn màu đỏ) trị giá 350.000 đồng; 01 máy cưa đĩa loại Makita M5801, công suất 1050W, trị giá 700.000 đồng; 01 cuộc dây điện màu vàng loại 2.5 dài 49,7 m, trị giá 248.000 đồng; 01 cuộn dây điện màu trắng loại 3 pha dài 28 m, trị giá 196.000 đồng; 01 cuộn ống nhựa mềm ơm nư c màu nâu dài 28,8 m, trị giá 86.000 đồng và 02 thanh thư c nhôm xây dựng, mỗi thanh có kích thư c (0,025 x 0,05)m, dài 02m, trị giá 40.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản ị chiếm đoạt là 3.170.000 đồng.

Tại ản án hình sự sơ thẩm số 03/2023/HSST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm , i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đối v i ị cáo Nguyễn Đức H.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm , i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối v i ị cáo Nguyễn Sỹ C.

Tuyên ố: Bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Sĩ C1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Đức H 07 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày ị cáo thi hành án.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Sĩ C1 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao ị cáo cho UBND xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp v i UBND xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục ị cáo. Trong trường hợp ị cáo Nguyễn Sĩ C1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự và trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định uộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của ản án đã cho hưởng án treo.

Ngoài ra ản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 20/02/2023, ị cáo Nguyễn Đức H làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa ị cáo đã khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình đúng v i nội dung ản án sơ thẩm và giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của ị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo, xem xét kháng cáo của ị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của ị cáo, sửa ản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm , i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Đức H 07 ( ảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Kháng cáo của ị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm:

Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của ị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 24/11/2022, tại công trình đang thi công Trường tiểu học và Trung học cơ sở V, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Đức H và Nguyễn Sĩ C1 đã lén lút lấy trộm 01 máy ơm NTP PUMP; 01 máy khoan, đục KAINUO; 01 máy khoan, ắn vít cầm tay M2; 01 máy cắt cầm tay GAOKE; 01 máy cưa đĩa loại Makita M5801; 01 cuộn dây điện màu vàng loại 2.5 dài 49,7m; 01 cuộn dây điện màu trắng loại 3 pha dài 28 m; 01 cuộn ống nhựa mềm ơm nư c màu nâu dài 28,8 m và 02 thanh thư c nhôm xây dựng của anh Nguyễn Tấn M1. Tổng trị giá tài sản là 3.170.000 đồng. V i hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử ị cáo Nguyễn Đức H và Nguyễn Sỹ C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của ị cáo Nguyễn Đức H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi của các ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật ảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, gây ức xúc trong nhân dân. Bị cáo Nguyễn Đức H có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn ất chấp thực hiện để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong vụ án này, ị cáo Nguyễn Đức H giữ vai trò chính, là người khởi xư ng rủ rê ị cáo Nguyễn Sỹ c thực hiện hành vi phạm tội. Tại cấp sơ thẩm, ị cáo Nguyễn Đức H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai áo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội tự nguyện ồi thường thiệt hại, ị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ị cáo, ố của ị cáo là ông Nguyễn Đức E có công v i cách mạng được Nhà nư c tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Sau khi phạm tội ị cáo ăn năn hối hận, hoàn cảnh gia đình ị cáo khó khăn, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, chính quyền địa phương xác nhận ị cáo đã có những đóng góp về vật chất và tinh thần trong công tác phòng chống dịch covid. Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét ị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly ị cáo ra khỏi xã hội mà giao ị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe và phòng ngừa, vì vậy kháng cáo của ị cáo được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Nguyễn Đức H; Sửa ản án sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm , i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt Nguyễn Đức H 07 ( ảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao ị cáo Nguyễn Đức H cho UBND xã P, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp v i cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục ị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 87, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định uộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của ản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội m i thì Tòa án uộc người đó phải chấp hành hình phạt của ản án trư c và tổng hợp v i hình phạt của ản án m i theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí của Tòa án ị cáo Nguyễn Đức H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ