- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÂM THỊ CẨM TIÊN - KANG TAE DONG"
- Tòa quyết gì? Thông tư số 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2023/HNGĐ - ST Ngày 25 - 9 - 2023 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Hồng Luyến
Ông Lê Xuân Tý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Linh– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Dương Thanh Giềng
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 55/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST - HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2023; Thông báo ấn định lại thời gian mở phiên tòa hôn nhân và gia đình số 14/TB – TA, ngày 25 tháng 7 năm 2023, Thông báo hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Cẩm T, sinh năm 1987 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang
- Bị đơn: Ông Kang Tae D, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Địa chỉ: # 478 Naepyung – ri, N - M, thành phố J, G – do, K (Hàn Quốc).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lâm Thị Cẩm T trình bày: Bà Lâm Thị Cẩm T được người quen mai mối để tìm hiểu với ông Kang Tea D1 có quốc tịch Hàn Quốc. Qua tìm hiểu bà và ông Kang Tea D1 đi đến tổ chức đám cưới và kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc năm 2011. Quan hệ hôn nhân giữa bà và anh K1 Tea Dong được công nhận tại Việt Nam theo Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ các việc hộ tịch đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài số 291/GXN-STP ngày 20/6/2011 của Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn bà theo chồng về sinh sống tại Hàn Quốc được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ngôn ngữ, quan điểm và phong tục, chồng bà cũng không yêu thương bà. Bà Lâm Thị Cẩm T ly thân ông Kang Tea D1 từ khoảng cuối năm 2011 đến khoảng năm 2015 thì bà trở về Việt Nam sinh sống đến nay. Do thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Lâm Thị Cẩm T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Kang Tea D1.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Cẩm T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông K1 Tea Dong từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Bộ Tư pháp của Hàn Quốc, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc không thực hiện được ủy thác tư pháp nêu trên, do địa chỉ không rõ ràng.
Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang đã đề nghị Đ tại Hàn Quốc niêm yết công khai thông báo ấn định lại thời gian mở phiên tòa hôn nhân và gia đình số 14/TB – TA, ngày 25 tháng 7 năm 2023. Tòa án đã tiến hành thông báo ấn định lại thời gian mở phiên tòa hôn nhân và gia đình số 14/TB – TA, ngày 25 tháng 7 năm 2023 cho ông K1 Tea Dong qua kênh dành cho người nước ngoài của Đ1 ba lần, trong ba ngày liên tiếp từ ngày 26, 27, 28/7/2023 (Kênh VOV5).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho bà Lâm Thị Cẩm T được ly hôn với ông K1 Tea Dong theo quy định của pháp luật; Về con chung, tài sản chung và nợ chung, do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng
Nguyên đơn bà Lâm Thị Cẩm T, đăng ký thường trú tại huyện V, tỉnh Hậu Giang, có đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn ông K1 Tea Dong là người nước ngoài, quốc tịch Hàn Quốc và đang cư trú tại Hàn Quốc. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Thị Cẩm T và ông Kang Tea D1 có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Kang Tea D1 đã được Tòa án tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, nhưng cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc không thực hiện được ủy thác tư pháp văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang đến bị đơn ông Kang Tea D1, do địa chỉ không rõ ràng. Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang đã đề nghị Đ tại Hàn Quốc niêm yết công khai thông báo ấn định lại thời gian mở phiên tòa hôn nhân và gia đình số 14/TB – TA, ngày 25 tháng 7 năm 2023. Tòa án đã tiến thông báo ấn định lại thời gian mở phiên tòa hôn nhân và gia đình số 14/TB – TA, ngày 25 tháng 7 năm 2023 cho ông K1 Tea Dong qua kênh dành cho người nước ngoài của Đ1 ba lần trong ba ngày liên tiếp từ ngày 26, 27, 28/7/2023 (Kênh VOV5).
Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Kang Tea D1.
Nguyên đơn bà Lâm Thị Cẩm T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Lâm Thị Cẩm T, theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về quan hệ hôn nhân
Bà Lâm Thị Cẩm T và ông Kang Tea D1 chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Quan hệ hôn nhân của bà Lâm Thị Cẩm T và ông Kang Tea D1 được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Thời gian bà Lâm Thị Cẩm T và ông K1 Tea Dong chung sống với nhau chỉ một thời gian ngắn, nhưng thời gian ly thân từ năm 2011 đến nay đã lâu. Cả hai vợ chồng không còn tình cảm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà Lâm Thị Cẩm T và ông Kang Tea D1 đã không có cơ hội hàn gắn và đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lâm Thị Cẩm T được ly hôn với ông Kang Tea D1.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Cẩm T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Thị Cẩm T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí ủy thác tư pháp: Bà Lâm Thị Cẩm T phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 147; Điều 470; Điều 474; Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27; Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Thông tư số 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
Áp dụng Điều 51; Điều 56 và Điều 122 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lâm Thị Cẩm T được ly hôn với ông Kang Tea D1.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Cẩm T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí bà Lâm Thị Cẩm T đã nộp theo biên lai thu số 0000210 ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.
4. Lệ phí ủy thác tư pháp: Bà Lâm Thị Cẩm T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp bà Lâm Thị Cẩm T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000280 ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành lệ phí ủy thác tư pháp.
5. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Chi cục THADS tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Phượng |