vanban.org

Bản án 75/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Xử cho anh Phạm Ngọc T được ly hôn chị Lữ Thị H. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Diệu T1, sinh ngày 15/9/2007 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 11 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn

Ông Bùi Trung Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc T; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Làng T, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Chị Lữ Thị H; sinh năm: 1986; nơi cư trú: Làng T, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt chị H, vắng mặt anh T. Anh T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Phạm Ngọc T trình bày: Anh và chị Lữ Thị H kết hôn tự nguyện, đã tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương từ đầu năm 2004, nhưng mãi đến ngày 23/8/2004 mới đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 18 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ngoài ra, khi anh đi làm xa nhà, chị H ở nhà có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Anh đã khuyên giải và cho cơ hội sửa chữa nhưng chị H vẫn không thay đổi, chỉ được một thời gian lại tiếp tục quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Từ tháng 04/2023 cho đến nay, tuy vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm tới ai. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 30/01/2005 và cháu Phạm Thị Diệu T1, sinh ngày 15/9/2007. Hiện cháu H1 đã thành niên, có khả năng lao động. Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1. Không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn là chị Lữ Thị H trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 18 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Từ tháng 04/2023 cho đến nay, tuy vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm tới ai. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, chị không đồng ý ly hôn. Khi nào anh T chia tài sản chung của vợ chồng cho chị thì chị mới đồng ý ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Ngọc H1, sinh ngày 30/01/2005 và cháu Phạm Thị Diệu T1, sinh ngày 15/9/2007. Hiện cháu H1 đã thành niên, có khả năng lao động. Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Nếu ly hôn, chị giao cháu T1 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); anh T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, chị H không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho anh Phạm Ngọc T được ly hôn chị Lữ Thị H. Giao cháu Phạm Thị Diệu T1, sinh ngày 15/9/2007 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Anh Phạm Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn chị Lữ Thị H, nơi cư trú tại Làng T, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Anh Phạm Ngọc T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt anh T.

Về hôn nhân: Anh Phạm Ngọc T và chị Lữ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/8/2004 tại UBND xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Anh T và chị H đều thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Tuy vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm tới ai và tình cảm vợ chồng không còn. Anh T cương quyết muốn được ly hôn.

Chị H không đồng ý ly hôn với lý do anh T chưa chia tài sản chung của vợ chồng cho chị. Tuy nhiên chị H lại không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản mà để hai vợ chồng tự thoả thuận. Lý do nêu trên của chị H không liên quan đến tình trạng cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, nếu anh chị không thoả thuận được về việc chia tài sản chung, chị H có quyền yêu cầu Toà án giải quyết nên lý do không đồng ý ly hôn của H không có căn cứ để chấp nhận.

Điều đó chứng tỏ anh T, chị H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh T được ly hôn chị H.

Về con chung: Anh T và chị H có 02 con chung. Hiện cháu H1 đã thành niên, có khả năng lao động. Anh T và chị H không yêu cầu nên không xem xét.

Xét thấy, cháu T1 có nguyện vọng muốn được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu, cũng như theo nguyện vọng của cháu. Chấp nhận yêu cầu của anh T và chị H, giao cháu T1 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của anh T, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Anh T, chị H không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Phạm Ngọc T được ly hôn chị Lữ Thị H.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Diệu T1, sinh ngày 15/9/2007 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Phạm Ngọc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền anh đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000662 ngày 29/9/2023. Anh T đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Chị H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ