vanban.org

Bản án 75/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị H - Nông Văn H"
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nông Quang M và cháu Nông Quang L; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nông Quang M và cháu Nông Quang L
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29/9/2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Hạnh Quỳnh.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Tâm và bà Triệu Thị Yên.

Thư ký Toà án: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 180/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lường Thị H, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn LĐ1, xã KĐ, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Nông Văn H1, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn LĐ1, xã KĐ, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt lần 02, đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, nội dung bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lường Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Lường Thị H và anh Nông Văn H1 qua tự nguyện, tự do tìm hiểu đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KĐ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang vào năm 2011 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2011 ngày 28/02/2011. Sau khi kết hôn trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu cho đến khoảng tháng 3 năm 2022 thì chị H và anh H1 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chị H cho rằng do giữa chị H và anh H1 không cùng quan điểm sống, anh H1 đi làm công nhân xa nhà không quan tâm chăm sóc vợ con, vợ chồng không thống nhất được với nhau về vấn đề kinh tế gia đình và hiện nay chị H và anh H1 đã sống ly thân. Chị H xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H1 đã hết, mâu thuẫn đã trầm trọng, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Văn H1.

- Về con chung: Chị Lường Thị H và anh Nông Văn H1 có 02 con chung là cháu Nông Quang M, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nông Quang L, sinh ngày 27/10/2015. Chị H có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lường Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, quan điểm như đã trình bày trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án và không thay đổi, bổ sung gì.

Quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, mở phiên họp việc kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hòa giải lần 01 và lần 02 cho đến tại phiên tòa, bị đơn anh Nông Văn H1 đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm, ý kiến gửi đến Tòa án (mặc dù đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng).

Tòa án đã tiến hành xác minh đối với ông Nông Văn Đ (là bố đẻ của anh Nông Văn H1), ông Hoàng Văn Đối - Trưởng thôn LĐ1 và Công an xã KĐ, xác định anh Nông Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn LĐ1, xã KĐ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, tuy nhiên thực tế hiện nay anh H1 đã đi làm ăn xa, không có mặt tại gia đình và địa phương, ông Đ xác nhận thỉnh thoảng anh H1 vẫn về gia đình vào các dịp lễ tết và hiện nay không biết cụ thể địa chỉ tạm trú cũng như khi nào anh H1 mới trở về gia đình và địa phương. Theo ông Đ cho biết chị H và anh H1 có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, sau khi kết hôn chị H và anh H1 chung sống tại thôn TM, xã YL, cho đến năm 2014 thì chuyển về thôn LĐ1, xã KĐ, huyện Chiêm Hóa sinh sống, thời gian chung sống tại thôn LĐ, xã KĐ thì ông Đ không thấy chị H và anh H1 phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên anh H1 ít khi về thăm gia đình vợ con; ông Đ có nhận được văn bản của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa và cam kết thông báo cho anh Nông Văn H1 biết về việc chị Lường Thị H có đơn xin ly hôn (thông tin qua điện thoại di động cho anh H1).

Tại bản tự khai ngày 11/7/2023 cháu Nông Quang M, sinh ngày 06/01/2012 trình bày sau khi chị H và anh H1 ly hôn nguyện vọng mong muốn được bố trực tiếp nuôi dưỡng.

Tại bản tự khai ngày 11/7/2023 cháu Nông Quang L, sinh ngày 27/10/2015 trình bày sau khi chị H và anh H1 ly hôn nguyện vọng mong muốn được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định, bị đơn không thực hiện về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; Điều 143, 144, 147 các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lường Thị H, cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Nông Văn H1; về con chung: Giao cháu Nông Quang M, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nông Quang L, sinh ngày 27/10/2015 cho chị Lường Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nông Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền, nghĩa vụ được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Lường Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh Nông Văn H1 không phải chịu án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.

NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lường Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Nông Văn H1; anh Nông Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn LĐ1, xã KĐ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.

Theo cung cấp của Công an xã KĐ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thì anh Nông Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn LĐ1, xã KĐ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Anh H1 đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ mới nên hiện tại không rõ anh H1 đang ở đâu, làm gì. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh H1 đến Tòa án để làm việc nhưng anh H1 vắng mặt không có lý do, anh H1 đã được thông báo nhưng vẫn không về, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lường Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến quan điểm như trong đơn khởi kiện, bị đơn anh Nông Văn H1 vắng mặt không có lý do (đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng), Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lường Thị H và anh Nông Văn H1 là hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KĐ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu cho đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, xảy ra nhiều cãi vã, không có sự quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống, chị H và anh H1 đi làm ăn xa nhà nên vợ chồng không có điều kiện quan tâm chăm sóc gia đình và đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, mâu thuẫn đã trầm trọng, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nông Văn H1.

Qua quá trình xác minh xác định thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; thể hiện tại Biên bản xác minh ngày 09/8/2023 (BL 38) thấy rằng chị H và anh H1 đã sống ly thân, kể từ khi ly thân, giữa chị H và anh H1 không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, do vậy giữa chị H và anh H1 không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lường Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nông Văn H1.

[2.2] Về con chung: Quá trình sống chung giữa chị Lường Thị H và anh Nông Văn H1 có 02 con chung là Nông Quang M, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nông Quang L, sinh ngày 27/10/2015, chị H có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Quá trình xác minh xác định hiện anh Nông Văn H1 không có mặt tại gia đình và địa phương, đồng thời cũng không có văn bản gửi đến Tòa án thể hiện quan điểm ý kiến về quyền nuôi dưỡng con. Tại bản tự khai các cháu M có nguyện vọng được ở với anh H1, cháu L có nguyện vọng ở với anh H1 sau khi chị H và anh H1 ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng tuy cháu M có nguyện vọng được ở với anh H1, anh H1 có thỉnh thoảng về thăm gia đình nhưng hiện anh H1 không có mặt tại gia đình và địa phương, không xác định được địa chỉ cụ thể của anh H1, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh H1 vẫn cố tình vắng mặt, không có văn bản hoặc ý kiến thể hiện quan điểm nguyện vọng về việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn nên để đảm bảo cho quyền lợi về mọi mặt của cháu M và cháu L, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nông Quang M và cháu Nông Quang L cho chị Lường Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn và có quyền, nghĩa vụ được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Chị Lường Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Chị Lường Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết; Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Lường Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh Nông Văn H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 143, 144, 147; các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lường Thị H, cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Nông Văn H1.

2. Về con chung: Giao các cháu Nông Quang M, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nông Quang L, sinh ngày 27/10/2015 cho chị Lường Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn và có quyền, nghĩa vụ được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Lường Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Chị H đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa theo biên lai số 0005641 ngày 11/7/2023 nay được chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm ly hôn (chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn). Anh Nông Văn H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ