- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hồ Thị Thanh H tranh chấp ly hôn với anh Bùi Thanh S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh H với bị đơn anh Bùi Thanh S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CĐ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-7- 2023 “V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Út
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trịnh Thị Kim Quyên
2. Bà Phạm Ngọc Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ tỉnh Long An.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cần Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 188/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30/6/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thanh H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: ấp 1, xã LĐ, huyện CĐ tỉnh Long An, ( có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Thanh S, sinh năm 1985;
Địa chỉ: ấp 3, xã CĐ, huyện CĐ tỉnh Long An, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28/3/2023 và bản tự khai ngày 13/6/2023 của nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh H trình bày: Chị H và anh Bùi Thanh S cưới nhau vào năm 2004, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2005 tại Uỷ ban nhân xã CĐ, huyện CĐ tỉnh Long An. Sau khi cưới, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 phát sinh mâu thuẩn vợ chồng do anh S không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, không quan tâm đến cuộc sống gia đình vợ con, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu ly hôn với anh S.
Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Bùi Ngọc Phương T, sinh ngày 26/5/2005 đã trưởng thành, Bùi Ngọc Phương V, sinh ngày 04/11/2013 hiện đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Bùi Ngọc Phương V và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con, còn Bùi Ngọc Phương T đã trưởng thành nên việc sống với cha hay mẹ là do T tự quyết định.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Do bận công việc nên chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn anh Bùi Thanh S, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng anh S không nộp văn bản nêu ý kiến cũng như không đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Bùi Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh S không đến tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt chị H với anh S.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Chị Hồ Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Bùi Thanh S là quan hệ tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CĐ tỉnh Long An.
Nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Bùi Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh S không đến tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt chị H và anh S.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Thanh H và anh Bùi Thanh S cưới nhau vào năm 2004, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2005 tại Uỷ ban nhân xã CĐ, huyện CĐ tỉnh Long An nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo đơn trình bày của chị H, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng là do anh S không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, không quan tâm đến cuộc sống gia đình vợ con, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Chị H nhận thấy không còn tình cảm với anh S nên yêu cầu được ly hôn với anh S. Đối với anh S, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh S vẫn không nộp cho Tòa án bất cứ văn bản nào trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị H và anh S cũng không đến Tòa án để giải quyết cho thấy anh S không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cần xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh S.
Về nuôi con chung: Chị H và anh S có 02 con chung là Bùi Ngọc Phương T, sinh ngày 26/5/2005/5 đã trưởng thành, Bùi Ngọc Phương V, sinh ngày 04/11/2013 hiện đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con là Bùi Ngọc Phương V và cháu V cũng có đơn nguyện vọng sống với mẹ nên việc chị H yêu cầu nuôi cháu V là có căn cứ chấp nhận. Đối với cháu Bùi Ngọc Phương T đã trưởng thành nên việc sống với cha hay mẹ do cháu T tự quyết định, chị H không có yêu cầu nên Tòa án không đề cặp.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày giữa chị H và anh S không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét .
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Về quyền, thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227,228, 266, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83,84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh H với bị đơn anh Bùi Thanh S.
1. Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Thanh H được ly hôn với anh Bùi Thanh S.
2. Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Bùi Ngọc Phương T, sinh ngày 26/5/2005 đã trưởng thành, Bùi Ngọc Phương V, sinh ngày 04/11/2013 hiện đang sống với chị H. Chị H được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Bùi Ngọc Phương V và anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Đối với cháu Bùi Ngọc Phương T đã trưởng thành nên việc cháu T sống với cha hay mẹ là do cháu T tự quyết định.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hồ Thị Thanh H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005305 ngày 19/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CĐ chị H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quỳên thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Cần Đước; - Chi cục THADS huyện Cần Đước; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Út |