- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Ph xin ly hôn anh Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Ph ly hôn anh Tr.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:75/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/6/2023. Về việc “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Chiến.
Ông Võ Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thành Trung – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên toà: Ông Phan Hoàng Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 574/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 giữa:
* Nguyên đơn: Chị Ph, sinh ngày 20/02/1982. (xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Anh Tr, sinh ngày 19/5/1980. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2022 và trong quá trình tố tụng chị Trần Thị Mỹ Phương trình bày:
Chị và anh Tr cưới nhau vào năm 2007 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B vào năm 2002. Quá trình chung sống có hạnh phúc, đến tháng 11/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống thường xuyên cải vả không thể hàn gắn được. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung tên M, sinh ngày 06/10/2009. Chị Ph yêu cầu được nuôi cháu Mai, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đã tống đạt hợp lệ cho anh Tr các văn bản tố tụng nhưng anh Tr vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh Nguyễn Thanh Tr.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Về Hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ph đối với anh Tr.
+ Về con chung: Chị Ph được nuôi con chung tên M, sinh ngày 06/10/2009 và anh Tr không cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Chị Ph khai không có nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Chị Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tr được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về hôn nhân: Chị Ph và anh Tr kết hôn vào năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre vào ngày 26/10/2007 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị Ph và anh Tr thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên chị Ph yêu cầu được ly hôn. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho anh Tr nhưng anh Tr vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, đều đó đã thể hiện anh Tr không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân giữa chị Ph và anh Tr đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ly hôn là biện pháp tốt nhất để trả tự do cho cả hai. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Ph là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Có 01 con chung tên M, sinh ngày 06/10/2009. Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu M và nguyện vọng của cháu M muốn sống với chị Ph nên cần giao cháu cho chị Ph nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Ph không có yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung nên được HĐXX ghi nhận.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên HĐXX không xem xét.
Về nợ chung: Chị Ph khai không có nên HĐXX không xem xét.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận cho chị Ph ly hôn anh Tr. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 26/10/2007 của UBND thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao 01 con chung tên M, sinh ngày 06/10/2009 cho chị Ph nuôi dưỡng và anh Tr không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Tr có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Ph phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Ph đã nộp theo biên lai thu số 0010315 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Bình Đại; - Chi cục THA huyện Bình Đại; - UBND thị trấn B; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |