vanban.org

Bản án 75/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Lê Hoàng T.

Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên: Lê Bảo K, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2019 cho chị Lê Thị Kim L được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, hiện nay đang chung sống với chị Lê Thị Kim L. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lê Thị Kim L và anh Lê Hoàng T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Lê Hoàng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-7-2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Kiều Oanh

2. Bà Nguyễn Ngọc Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim L, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2000 (có mặt);

Địa chỉ: ấp MQ, xã TY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: ấp XD, xã TY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng T, sinh năm 1996 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp MQ, xã TY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Kim L trình bày và yêu cầu như sau:

Chị và anh Lê Hoàng T chung sống với nhau vào năm 2018, đến năm tháng 12/2018 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã TY cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11 tháng 12 năm 2018. Chị và anh Lê Hoàng T có 01 người con chung tên: Lê Bảo K, sinh ngày 05/8/2019, hiện nay đang chung sống với chị; về tài sản chung, chị và anh Lê Hoàng T không có tài sản chung; về nợ, chị và anh Lê Hoàng T không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh Lê Hoàng T sống không hòa hợp, thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau, thời gian gần đây anh Lê Hoàng T thường xuyên đi ăn nhậu với bạn bè về kiếm chuyện đánh đập chị, gia đình đã khuyên nhiều lần để anh Lê Hoàng T sửa đổi, cùng nhau lo cho gia đình nhưng đến nay anh Lê Hoàng T vẫn không sửa đổi, đến tháng 02/2023 chị và anh Lê Hoàng T sống ly thân với nhau cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Lê Hoàng T không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng T. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng 01 người con chung: Lê Bảo K, sinh ngày 05/8/2019 đến tròn 18 tuổi, tự lao động sinh sống được, chị không yêu cầu anh Lê Hoàng T cấp dưỡng con chung. Về tài sản chung và nợ: Chị và anh Lê Hoàng T không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị, chị không yêu cầu giải quyết.

* Tại đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt ngày 18 tháng 5 năm 2023, bị đơn anh Lê Hoàng T trình bày như sau:

Anh bận công việc gia đình nên anh yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt anh trong quá trình giải quyết vụ án, anh không yêu cầu giải quyết gì thêm.

* Tại Biên bản xác minh ngày 16 tháng 5 năm 2023, về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:

Anh Lê Hoàng T và chị Lê Thị Kim L chung sống hạnh phúc được một thời gian phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường xuyên cự cãi với nhau, sống không hạnh phúc. Thời gian anh Lê Hoàng T và chị Lê Thị Kim L chung sống có được 01 người con chung hiện nay đang chung sống với chị Lê Thị Kim L.

* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Giấy chứng nhận kết hôn Lê Thị Kim L và Lê Hoàng T (Bản chính); Giấy khai sinh Lê Bảo K, sinh ngày 05/8/2019 (Bản sao); Giấy chứng minh nhân dân tên Lê Thị Kim L, sinh ngày 20 ngày 6 tháng 2000 (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 06/02/2023 của chị Lê Thị Kim L, ngày 06/02/2023 (Bản chính); Biên bản xác minh ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính).

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Lê Thị Kim L yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng T. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên Lê Bảo K, sinh ngày 05/8/2019 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, chị không yêu cầu anh Lê Hoàng T cấp dưỡng con. Về tài sản chung và nợ, chị và anh Lê Hoàng T không có, chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Lê Hoàng T gửi đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các trình tự thủ tục tố tục theo quy định pháp luật. Nguyên đơn chị Lê Thị Kim L thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn anh Lê Hoàng T có đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Lê Thị Kim L yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng T và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, anh Lê Hoàng T không có ý kiến yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lê Thị Kim L và anh Lê Hoàng T. Về cấp dưỡng nuôi con chị Lê Thị Kim L không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, về tài sản chung và nợ, chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Lê Hoàng T; khi anh chị ly hôn giao người con chung của anh chị cho chị Lê Thị Kim L tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị Kim L yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Lê Hoàng T và nuôi con. Nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại: ấp MQ, xã TY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lê Hoàng T biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Lê Thị Kim L khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh, đến ngày 18 tháng 5 năm 2023 anh Lê Hoàng T gửi đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết giải quyết và xét xử vụ án. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, chị Lê Thị Kim L không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Lê Hoàng T theo quy định tại khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Lê Thị Kim L và anh Lê Hoàng T chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã TY, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 171 ngày 11/12/2018, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nay là Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét khởi kiện của chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Lê Hoàng T, thời gian chị và anh Lê Hoàng T chung sống với nhau thì anh Lê Hoàng T không lo cho vợ con, sống không hòa hợp, anh chị thường xảy ra cự cãi bất hòa, hôn nhân không hạnh phúc và đã sống ly thân với nhau từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Kim L cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng T thì anh Lê Hoàng T cũng không có ý kiến yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và ghi nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Kim L và anh Lê Hoàng T. Cho chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Lê Hoàng T là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung, chị Lê Thị Kim L và anh Lê Hoàng T có 01 người con chung tên: Lê Bảo K, sinh ngày 05/8/2019. Khi ly hôn chị Lê Thị Kim L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung, anh Lê Hoàng T cũng không có ý kiến yêu cầu gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Lê Thị Kim L, giao người con chung của anh chị cho chị Lê Thị Kim L được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Lê Thị Kim L không yêu cầu anh Lê Hoàng T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ, chị Lê Thị Kim L và anh Lê Hoàng T tự xác định, anh chị không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và anh chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Kim L được ly hôn với anh Lê Hoàng T.

2. Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên: Lê Bảo K, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2019 cho chị Lê Thị Kim L được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, hiện nay đang chung sống với chị Lê Thị Kim L.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Kim L không yêu cầu anh Lê Hoàng T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ, chị Lê Thị Kim L tự xác định, anh chị không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và anh chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

5. Về án phí: Buộc chị Lê Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003948 ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Lê Thị Kim L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 13/7/2023. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ