- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Võ Thị Y tranh chấp hụi"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 75/2023/DS-ST Ngày: 27/7/2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNTÂN PHƢỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Trung.
2. Bà Trần Thị Thu Thảo.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh Liêm –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn:
Bà Võ Thị Y, sinh năm 1965. Địa chỉ: ấp TB, xã TL 2, huyện TP, tỉnh TG (có mặt).
2.Bị đơn:
Bà Lê Thị Bé T, sinh năm 1962. Ông Lê Văn G, sinh năm 1952. Địa chỉ: ấp HP, xã HT, huyện TP1, tỉnh TG1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Y trình bày:
Ngày 28/12/2021, bà Bé T và ông G có hỏi vay của bà 60.000.000đồng. Thỏa thuận miệng khi cần thì bà thông báo cho ông G và bà T biết để trả lại. Mục đích vay để làm vốn làm ăn. Sau đó, bà có đến yêu cầu ông G và bà T trả nhưng ông bà không trả kéo dài cho đến nay.
Ngoài ra, bà Bé T có tham gia hụi do bà làm chủ thảo.
Dây hụi thứ 1: Hụi 5.000.000 đồng, hụi khui ngày 10/11/2020 AL, mỗi tháng khui một lần, hụi có 21 phần tham gia, bà Bé T tham gia 01 phần. Hụi khui đến lần thứ 5 thì bà Bé T hốt hụi. Sau khi hốt hụi bà Bé T góp được 14 lần hụi chết thì ngưng không góp nữa. Dây hụi này bà chàng hụi cho bà Bé T 01 phần hụi cuối. Nay hụi đã mãn, bà Bé T thiếu bà 5.000.000đồng.
Dây hụi thứ 2: Hụi 5.000.000 đồng, hụi khui ngày 20/3/2021AL, mỗi tháng khui một lần, hụi có 25 phần tham gia, bà Bé T tham gia 01 phần. Hụi khui đến lần thứ 3 thì bà Bé T hốt hụi. Sau khi hốt hụi bà Bé T góp được 13 lần hụi chết thì ngưng không góp nữa. Dây hụi này bà chàng hụi cho bà Bé T 09 lần x 5.000.000đồng x 01 phần = 45.000.000đồng. Nay hụi đã mãn, bà Bé T thiếu bà 45.000.000đồng.
Tổng cộng, tiền vay và tiền hụi bà Bé T thiếu bà 110.000.000đồng. Nay yêu cầu bà Bé T và ông G liên đới trả cho bà số tiền hụi 50.000.000đồng và 60.000.000đồng nợ gốc và yêu cầu tính lãi theo quy định nhà nước từ tháng 12/2021 đến khi xét xử sơ thẩm. Yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông G, bà T chưa trả được nợ còn phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
*Bị đơn Lê Thị Bé T, Lê Văn G:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông G, bà T vắng mặt không rõ lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Y.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn khai nhận có cho bị đơn vay nhiều lần và bị đơn có tham gia hụi do nguyên đơn làm chủ thảo; nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng góp hụi theo quy định tại Điều 463, 471 Bộ luật dân sự. Hai bên xác lập giao dịch dân sự năm 2021 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Võ Thị Y tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng góp hụi với bị đơn Lê Thị Bé T và Lê Văn G có địa chỉ: xã HT, huyện TP1, tỉnh TG1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Lê Thị Bé T và Lê Văn G được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về chứng cứ vụ án: Bà Y trình bày có cho bà T, ông G vay số tiền 60.000.000đồng và tiền hụi mà bà T không góp hụi cho bà, bà phải chàng hụi là 50.000.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án bà Y có cung cấp các biên nhận nợ do bà T, ông G ký tên. Tòa án tiến hành tống đạt tài liệu chứng cứ và thông báo cho bị đơn biết nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy bà T và ông G là vợ chồng, tại thời điểm diễn ra giao dịch vay tiền, góp hụi giữa bà T và bà Y thì bà T và ông G là vợ chồng hợp pháp. Hội đồng xét xử xác định nghĩa vụ trả nợ của bà T, ông G phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là nghĩa vụ chung của ông bà T và ông G. Căn cứ điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng phải có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nh m đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó yêu cầu của bà Y yêu cầu Tòa án buộc ông G và bà T cùng có trách nhiệm trả nợ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Đối với số nợ vay: Xét thấy bà Y yêu cầu bà T và ông G trả số tiền nợ gốc là 60.000.000đồng mà bà T, ông G đã vay của bà. Xét việc bà T, ông G vay tiền đã lâu nhưng đến nay không trả là vi phạm nghĩa vụ do đó bà Y khởi kiện yêu cầu bà T, ông G trả nợ là có căn cứ. Bà T, ông G vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng quyền lợi của bà Y nên cần buộc bị đơn trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Về lãi suất: Bà Y yêu cầu tính lãi theo quy định pháp đối với số tiền 60.000.000đồng, tính từ 28/12/2021AL (30/01/2022DL) đến khi xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy Xét thấy, hợp đồng vay xác lập giữa hai bên là hợp đồng vay có thời hạn, nhưng đến hạn bà T, ông G không trả kéo dài cho đến nay. Bà Y trình bày lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng nhưng chưa nhận phần tiền lãi nào, lãi suất như hai bên trình bày là vượt quá quy định pháp luật cần điều chỉnh cho phù hợp. Căn cứ vào Điều 466, 468 Bộ luật dân sự, thì lãi suất buộc bị đơn phải chịu là 1,66%/tháng; do đó bị đơn phải trả số tiền lãi cho bà Y là 60.000.000đồng x 1,66%/tháng x 17 tháng 27 ngày = 17.828.400đồng.
. Đối với số nợ hụi: Xét thấy bà Y yêu cầu bà T và ông G trả số tiền nợ hụi là 50.000.000đồng mà bà T, ông G đã hốt hụi nhưng không góp hụi mà bà Y phải góp thay. Do đó, bà Y khởi kiện là có căn cứ chấp nhận nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền hụi mà bà Y đã góp thay, buộc trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Tổng cộng số tiền là 127.828.400đồng gồm 60.000.000đồng nợ gốc + 17.828.400đồng lãi suất và 50.000.000đồng nợ hụi. Trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Bà Lê Thị Bé T, ông Lê Văn G phải chịu án phí DSST theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Võ Thị Y không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 357, Điều 463, 466, 468, 471 Bộ luật dân sự 2015.
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39. Khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
Điểm đ khoản 1 Điều 12. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường.
Xử:
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Y.
Buộc ông Lê Văn G và bà Lê Thị Bé T trả cho bà Võ Thị Y số tiền 127.828.400đồng (gồm 60.000.000đồng nợ gốc + 17.828.400 đồng lãi suất và 50.000.000đồng nợ hụi). Trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Y có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông G, bà T chậm thi hành thì còn phải chịu thêm lãi theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí: Bà Lê Thị Bé T và ông Lê Văn G phải chịu 6.391.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lê Thị Bé T và ông Lê Văn G thuộc trường hợp miễn tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 26/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông G và bà T có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí DSST cho bà T và ông G.
Bà Võ Thị Y không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Võ Thị Y số tiền 3.025.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng số 0003414 ngày 14/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông G, bà T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Tân Phước; - Chi cục THADS huyện Tân Phước; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Thuyền |