vanban.org

Bản án 75/2023/DS-ST — Tranh chấp cá nhân<>

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Cẩm T – Chủ hộ kinh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp cá nhân<> — án dân sự — "TQM - Trần Văn N"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/DS-ST
Ngày: 30 – 9 – 2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ghết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Thành

2. Ông Võ Tấn Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân

khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau

tham gia phiên toà: Ông Trần Trung Kiên – Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2025/TLST–DS ngày 18 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Cẩm T – Chủ hộ kinh doanh T2

Địa chỉ: Ấp V, xã V, tỉnh Cà Mau

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Trịnh Thị Thúy H, sinh năm 1990

Địa chỉ: Số F đường L, khóm K, phường H, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1966

Bà Dương Thị Hồng T1, sinh năm 1970

Địa chỉ: Ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau. (Chị Trịnh Thị Thúy H có đơn xin vắng mặt, ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1

vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2025, tại bản tự khai, quá trình làm việc

đại diện nguyên đơn trình bày:

Từ năm 2020 giữa hộ kinh doanh T2 và ông Trần Văn N, bà Dương Thị

Hồng T1 ký kết hợp đồng mua bán thức ăn và thuốc thuỷ sản với nhau. Trong quá trình giao dịch Hộ kinh doanh T2 đã giao thức ăn tôm và thuốc thuỷ sản theo đơn đặt hàng cho ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1. Phương thức thanh toán là khi thu hoạch tôm thì ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 có nghĩa vụ thanh toán dứt điểm công nợ cho hộ kinh doanh T2, chậm nhất là 01 ngày kể từ ngày thu vụ tôm cuối.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Trần Văn N, bà Dương Thị

Hồng T1 có thanh toán công nợ cho Hộ kinh doanh T2 nhưng không dứt nợ. Ngày 30/01/2022 thì hộ kinh doanh T2 và ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 có đối chiếu nợ với nhau, theo đó tổng số tiền mà ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 nợ hộ kinh doanh T2 là 63.448.000 đồng; Việc đối chiếu nợ được ghi vào sổ giao nhận hàng hoá. Tuy nhiên đến nay ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 chưa thanh toán số nợ này cho hộ kinh doanh T2.

Nay ra Tòa bà Ngô Thị Cẩm T – chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 1

yêu cầu ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 trả số tiền nợ gốc là 63.448.000 đồng.

Ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp

lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm

phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải

quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 244 Bộ Luật tố

tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Cẩm T – Chủ hộ kinh

doanh T2. Buộc ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 trả cho bà Ngô Thị Cẩm T – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 1 số tiền nợ gốc là 63.448.000 đồng.

- Về án phí: Buộc ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 phải nộp số

tiền án phí có giá ngạch theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bà Ngô Thị Cẩm T – Chủ hộ kinh doanh T2 khởi kiện yêu cầu giải

quyết tranh chấp hợp đồng mua bán đối với bị đơn ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 cư trú tại ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau.

Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ

đến lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn yêu cầu ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 phải

thanh toán số tiền gốc là 63.448.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ năm 2020, Hộ kinh doanh T2 nhiều lần bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản cho ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1, địa chỉ ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau. Các bên có lập hợp đồng mua bán và có sổ theo dõi công nợ. Đến ngày 30/01/2022, giữa Hộ kinh doanh T2 và ông Trần Văn N có lập bảng đối chiếu công nợ với nội dung “số dư công nợ là 63.448.000 đồng".

Như vậy, quan hệ mua bán thuốc thủy sản và thức ăn nuôi tôm giữa bà

Ngô Thị Cẩm T – chủ hộ kinh doanh T2 và ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 là hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự. Mặt khác, trên thực tế ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 đã mua thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản của Hộ kinh doanh T2 đã diễn ra từ ngày 06/7/2020, thể hiện ở sổ theo dõi công nợ có chữ ký của ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 có thanh toán một phần công nợ cho hộ kinh doanh T2. Tại bản đối chiếu công nợ mà các bên đã xác lập với nhau thì ông Trần Văn N1 xác nhận còn nợ Hộ kinh doanh T2 với số tiền 63.448.000 đồng. Do đó, ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền mà các bên đã thỏa thuận trong quá trình mua bán với nhau được quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Vì vậy, việc bà Ngô Thị Cẩm T – chủ hộ kinh doanh Tân Quang M 1 khởi kiện số tiền 314.940.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 430, khoản 1 Điều 440; Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại

phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông

Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Điều 227, Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, Điều 430, Điều 440, Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Cẩm T – Chủ hộ kinh

doanh Tân Quang Minh 1 đối ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1.

Buộc ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 có nghĩa vụ trả cho bà

Ngô Thị Cẩm T – Chủ hộ kinh doanh T2 số tiền 63.448.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ

quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Buộc ông Trần Văn N, bà Dương Thị Hồng T1 phải chịu

án phí sơ thẩm là 3.172.400 đồng.

Bà Ngô Thị Cẩm T – chủ hộ kinh doanh T2 đã nộp tạm ứng án phí số tiền

1.586.000 đồng theo biên lai thu tiền tại ứng án phí, lệ phí số 0006088 ngày 18/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Cà Mau) được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ