- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Q phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Cố ý gây thương tích ”, thời gian thử thách là 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 75 / 2022/ HS- ST Ngày 28/ 11/ 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chấn, bà Đỗ Thị Hoài Mơ.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/HSSTngày 28/10/ 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76 / 2022/ HSST- QĐ ngày 14 /11/ 2022 đối với bị cáo Trần Văn Q- SN 1956. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
- HKTT và chỗ ở : Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/10.Bố đẻ: Trần Văn Q1 (đã chết).Mẹ đẻ: Phạm Thị T1, sinh năm 1935.Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1960.Bị caó có 06 con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1990.Tiền án, tiền sự: Không.
Bị caó đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại ( Có mặt )
Bị hại: Anh Trần Văn M – Sinh năm 1981( Có mặt ) .
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người làm chứng: Anh Trần Văn T- Sinh năm 1978( Có mặt ), bà Nguyễn Thị B- Sinh năm 1964( Vắng mặt ).
Cùng cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Chiều ngày 23/4/2022, Trần Văn Q đi phun thuốc trừ sâu tại khu ruộng Nương Chè thuộc thôn Đ, xã Vô T. Do mâu thuẫn với anh Trần Văn M, sinh năm 1981 (là em ruột Q) ở cùng thôn về việc lấy nước phun thuốc trừ sâu nên Q và anh M cãi, chửi nhau. Do bực tức việc bị anh M chửi, Q chạy đến bờ ao gần đó lấy 01 đoạn cây đập xuống đất gãy làm đôi rồi cầm đoạn cây còn lại dài 76cm (Đường kính đầu to 5,5cm, đường kính đầu nhỏ 03cm) đuổi đánh anh M. Anh M cũng nhặt 01 đoạn cành vải cầm trên tay bỏ chạy sang vườn nhà bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1964 ở cùng thôn .Anh M bỏ chạy đến phía sau bếp nhà bà B thì vướng hàng rào lưới sắt nên quay lại. Q đuổi đến chỗ anh M cầm khúc cây ở tay phải đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng thái dương bên trái anh M làm anh M bị choáng ngã xuống đất. Q cầm khúc cây đánh tiếp 02 cái nữa vào khuỷu tay trái và bàn tay phải anh M thì bà B và anh Trần Văn S, sinh năm 1990 chạy vào can ngăn. Q vất gậy tại hiện trường rồi tiếp tục đi phun thuốc sâu.
Anh Trần Văn M được gia đình đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 sau đó chuyển về Trung tâm Y tế huyện Lục Nam điều trị từ ngày 23/4/2022 đến ngày 04/5/2022 .
Ngày 04/5/2022, anh Trần Văn M có đơn trình báo Công an xã V Trần Văn Q tự tìm kiếm và giao nộp 01 đoạn khúc cây dài 76cm.
Về thương tích của anh Trần Văn M:
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 738/22/TgT ngày 16/6/2022 của Trung tâm Pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận:
- Thương tích chạm thương vùng trán thái dương đỉnh trái + Chảy máu khoang dưới nhện hiện vùng thái dương phải + Phiếu chụp cắt lớp vi tính: Hiện không thấy tổn thương và di chứng tổn thương nội sọ do chấn thương + Chấn động não + Điện não đồ hoạt động sóng dạng chấn động não: 14%.
- Thương tích chạm thương vùng khuỷu tay trái không còn dấu vết: 0%.
- Thương tích chạm thương bàn tay phải không còn dấu vết: 0%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 14%. Vật, cơ chế gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng. Vật gửi giám định gây được thương tích cho anh Trần Văn Mười
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn M yêu cầu bị caó Q bồi thường tiền chi phí viện phí, tiền thuê xe đi viện, tiền thuốc điều trị, tổng cộng là 13.494.000 đồng. Bị caó Q chưa bồi thường gì cho anh M .
Vật chứng chuyển xử lý cùng vụ án: 01 gậy gỗ dài 76cm, đường kính đầu to là 5,5cm, đường kính đầu nhỏ là 3,3cm.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cáo trạng số 68/CT- VKS ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố Trần Văn Q về tội “ Cố ý gây thương tích ” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng diễn biến hành vi phạm tội, đúng quy định pháp luật, không oan. Bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 23/4/2022, trong lúc tháo, đắp nước để bơm thuốc trừ sâu tại khu vực ruộng Nương Chè địa phận thôn Đ, xã V, giữa bị cáo và anh M có xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau. Do bực tức vì anh M chửi , Q đã dùng 01 gậy gỗ dài 76cm đánh gây thương tích cho anh Mười ở vùng đầu và hai tay.Tuy nhiên bị cáo không chủ ý đánh vào vùng đầu của anh Mười.
Bị cáo đồng ý với Kết luận giám định pháp y về tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Mười là 14 %. Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội và đồng ý bồi thường anh M13.494.000, nay bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.
Bị hại là anh Trần Văn M tại phiên tòa trình bày: Khoảng 17 giờ ngày 23/4/2022, do mâu thuẫn về việc tháo, đắp nước để bơm thuốc trừ sâu tại khu vực ruộng Nương Chè nên bị cáo và anh M có cãi chửi nhau, anh M bị Trần Văn Q dùng 01 gậy gỗ dài 76cm đánh gây thương tích cho anh M ở vùng thái dương đỉnh trái, vùng khuỷu tay trái và bàn tay phải. Anh M đồng ý Kết luận giám định pháp y về tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%.
Anh M yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí viện phí, tiền thuê xe đi viện, tiền thuốc điều trị, tổng cộng 13.494.000 đồng. Bị caó Q chưa bồi thường gì cho anh M. Về hình phạt:Tại phiên tòa, anh M đề nghị giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Người làm chứng là bà Trần Thị B vắng mặt tại phiên tòa, tại Cơ quan điều tra trình bày: Chiều ngày 23/4/2022, bà B thấy bị cáo Q và anh M cãi chửi nhau tại vườn cạnh nhà bà B, sau đó thấy bị cáo cầm 01 đoạn gậy gỗ đuổi, đánh anh Mười gây thương tích ở vùng đầu. Sau đó bà B chạy tới can ngăn.
Anh Trần Văn T tại phiên tòa trình bày: Khoảng 17 giờ ngày 23/4/ 2022, anh T được người nhà gọi về thì thấy anh M bị đánh nằm ở vườn vải, bị thương tích ở vùng đầu và tay, sau đó anh T đưa anh M đi cấp cứu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố, đã luận tội và đề nghị kết tội : Khoảng 17 giờ ngày 23/4/ 2022, xuất phát từ việc mâu thuẫn về việc tháo, đắp nước để bơm thuốc trừ sâu nên bị cáo Trần Văn Q đã dùng 01 gậy gỗ dài 76cm đánh gây thương tích cho anh M với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14 %, thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự .
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, Giấy khen của Hội Cựu chiến binh và bị hại đề nghị giảm hình phạt cho hưởng án treo, thuộc trường hợp quy định tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 ; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Cố ý gây thương tích ”, thời gian thử thách là 04 năm đến 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q có nghĩa vụ bồi thường anh M 13.494.000 đồng
Về vật chứng: 01 gậy gỗ dài 76cm vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí : Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm đối với bị cáo do là người cao tuổi.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội và xin giảm hình phạt .
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng Nguyễn Thị Bốn nhưng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án; tại quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo Quỷnh đều không yêu cầu trợ giúp pháp lý, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật tố tụng hình sự.
. Về căn cứ xác định cấu thành tội phạm: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên t a hôm nay là tự nguyện và thành khẩn, phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng tại giai đoạn khởi tố điều tra, phù hợp với nội dung Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định : Khoảng 17 giờ ngày 23/4/2022, xuất phát từ việc mâu thuẫn về việc tháo, đắp nước để bơm thuốc trừ sâu và cãi chửi nhau giữa anh M và bị cáo Q nên bị cáo đã dùng 01 gậy gỗ dài 76cm đánh gây thương tích cho anh M với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14 %. Do cây gậy gỗ là hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là " Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ”, “ Có thành tích xuất sắc trong chiến đấu ”. Ngoài ra bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, Giấy khen của Hội Cựu chiến binh; đồng thời tại phiên tòa, bị hại đề nghị giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều134 Bộ luật hình sự và luận tội, đề nghị kết tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tại phiên t a là đúng quy định pháp luật .
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất và hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên bị cáo là người lao động nhất thời phạm tội, có nhân thân tốt, có công với cách mạng có thành tích xuất sắc trong chiến đấu; phạm tội lần đầu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có nơi cư trú rõ ràng, bị hại đề nghị giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo : Là các tình tiêt giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp quy định pháp luật và nguyên tắc khoan hồng đối với người phạm tội lần đầu và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
.Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị hại là13.494.000 đồng
. Về vật chứng và án phí : Vật chứng là cây gậy gỗ cần tịch thu tiêu hủy.
n phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm đối với bị cáo do là người cao tuổi
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, v khoản 1và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 590 Bộ luật dân sự; các Điều 292, 293 và 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự :
2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Cố ý gây thương tích ”, thời gian thử thách là 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của uật thi hành án hình sự.
4. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q có nghĩa vụ bồi thường anh Trần Văn M 13.494.000 đồng ( Mười ba triệu bốn trăm chín mươi tư nghìn đồng ).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực thi hành và có quyết định thi hành án, người phải thi hành án dân sự phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5.Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy gỗ dài 76cm vật chứng của vụ án .
6 Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Nam; - Công an huyện Lục Nam; - THADS huyện Lục Nam; - UBND xã V - ưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Kiên |