vanban.org

Bản án 75/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 27/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 4 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Đ - phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HS-ST
Ngày 27 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Tố.

Ông Phan Á.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nhật Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1995 tại BĐ; nơi cư trú: Khu phố 5, phường TQ, thị xã HN, tỉnh BĐ; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C, sinh năm 1970 và bà Thái Thị Kim Ph, sinh năm 1970; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang được tại ngoại, có mặt.

* Người bị hại:

- Bà Võ Thị Xuân Nh, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu phố 4, phường BS, thị xã HN, tỉnh BĐ, vắng mặt.

- Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố C, phường TQN, thị xã HN, tỉnh BĐ, vắng mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 01/02/2022, Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77C1-715.29 đi vòng quanh các tuyến đường ở khu vực Quảng trường thị xã Hoài Nhơn với mục đích cướp giật tài sản. Đến 21 giờ 45 phút cùng ngày, Đào phát hiện bà Võ Thị Xuân Nh cầm ví da màu nâu, đi bộ sát mép phía Bắc đường Nguyễn Sinh S hướng về đường L, Đào điều khiển xe vượt qua bà Nh một đoạn rồi dừng xe đợi bà Nh đi đến để giật túi xách. Khi bà Nh đến vị trí Đ đang đứng, Đ nhanh chóng dùng tay trái giật ví da bà Nh rồi điều khiển xe mô tô chạy thoát. Đào điều khiển xe đến cầu trên đường X thuộc khu phố NSB, phường HTT, thị xã HN, kiểm tra bên trong ví da có: 3.500.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung J5 màu bạc và một số giấy tờ tùy thân. Đ lấy 3.500.000 đồng rồi vứt điện thoại Samsung J5 màu bạc xuống sông. Đ vứt ví da màu nâu tại đoạn đường đất phía sau khách sạn H thuộc khu phố T, phường TQB. Số tiền 3.500.000 đồng cướp giật được, Đ đã sử dụng hết.

Khoảng 16 giờ ngày 12/02/2022, Nguyễn Hữu Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77C1-715.29 đi vòng quanh các tuyến đường các xã, phường phía Bắc thị xã HN với ý định cướp giật tài sản. Đến 17 giờ 10 phút, Đ phát hiện chị Đỗ Thị H mang túi xách da ở vai phải, đứng nghe điện thoại ở phía Đông đường HHT thuộc khu phố CLĐ, phường TQN. Đ điều khiển xe đi qua chị H để giật túi xách nhưng chưa được. Sau đó, Đ tiếp tục điều khiển xe đến vị trí chị H đang đứng, dùng tay trái giật túi xách của chị H và chạy thoát. Đ điều khiển xe đến đoạn đường đất đỏ gần khách sạn C thuộc khu phố CLB, phường TQ vứt áo khoát vải màu đen có mũ trùm đầu, ngực trái có ký hiệu Đ&FASHION đang mặc ở gốc cây ven đường. Sau đó, Đ lấy trong túi xách 700.000 nghìn đồng rồi vứt túi xách bên trong có 03 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 2 USD, 01 tờ mệnh giá 1 USD, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng cùng một số giấy tờ khác dưới gốc cây phía Tây đường. Số tiền 700.000 đồng cướp giật được, Đ đã sử dụng hết.

Ngày 03 tháng 3 năm 2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hoài Nhơn kết luận: Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá là 1.390.000 đồng. Như vậy, tổng số tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 5.595.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 35/CT-VKSHN ngày 19 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 04 đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình và chăm sóc cho bà ngoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Vào các ngày 01/02/2022 và 12/02/2022, tại phường BS và TQN, thị xã HN, bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã sử dụng xe mô tô chiếm đoạt tài sản của nhiều người, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 5.595.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Bản cáo trạng, với lời khai của các bị hại và với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận, lợi dụng sơ hở của người khác, bị cáo Nguyễn Hữu Đ sử dụng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe mô tô nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng trị giá 5.595.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định điểm d tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, dùng thủ đoạn nguy hiểm nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo khắc phục hậu quả gây ra; vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn: Về tội danh và mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận giải quyết xong, không còn yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 4 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn) là 01 áo khoát vải màu đen có mũ trùm đầu, ngực trái có ký hiệu Đ&FASHION.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171 các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 4 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn) là 01 áo khoát vải màu đen có mũ trùm đầu, ngực trái có ký hiệu Đ&FASHION.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ