- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1].Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 75/2022/HS - ST Ngày: 26 - 12 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu
Các Hội thẩm:
1. Ông Hoàng Duy Thanh
2. Bà Bùi Thị Hà
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Dũng, Kiểm sát viên sơ cấp
Ngày 26 tháng 12 năm 2022 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 74/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2022/QĐXX ST
- HS ngày 13 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Anh T, tên gọi khác: Cu L
Sinh ngày: 26/8/1998; tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã C huyện B, tỉnh Đắk Lắk
Chỗ ở trước khi phạm tội: TDP A1, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công P, sinh năm 1972 và con bà: Đặng Thị C, sinh năm 1976; có vợ là Nguyễn Thị D sinh năm 1996 (không đăng ký kết hôn), có 01 con sinh năm 2016; Tiền sự: Không;
Tiền án: 03 Tiền án.
Ngày 04/11/2019, Trần Anh T bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 297/2019/HSST. Ngày 25/6/2020, Trần Anh T chấp hành xong hình phạt tại Trại Giam Đắk Trung. Bị cáo chưa được xóa án tích.
Ngày 05/3/2021, Trần Anh T bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 73/2021/HSST. Ngày 16/9/2021, Trần Anh T chấp hành xong hình phạt tại Trại Giam Đắk Tân. Bị cáo chưa được xóa án tích.
Ngày 16/02/2022, Trần Anh T bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 04/2022/HSST. Ngày 05/8/2022, Trần Anh T chấp hành xong hình phạt tại Trại Giam Đắk Trung. Bị cáo chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10 tháng 10 năm 2022 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn D, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
- Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan: Cháu Trần Quốc Bảo H, sinh năm 2010 (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp cho cháu H: Ông Trần Công P, sinh năm 1972, là cha đẻ của cháu H
Cùng trú tại: Tổ dân phố A1, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1968, (vắng mặt)
Trú tại: T, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 09/10/2022, Trần Anh T lấy xe đạp của Trần Bảo Quốc H (là em trai ruột của T), đi từ tổ dân phố 1, thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, đến nhà bà nội ở thôn 6, xã Cuôr Knia, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Khi đi ngang qua nhà ông Nguyễn Văn Đ tại thôn 3, xã Ea M’nang, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, do thấy cổng nhà đang mở và không có người trong nhà nên T đã nảy sinh ý định vào nhà ông Đ trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. T để xe đạp ở ngoài đường rồi đi bộ vào trong sân nhà ông Đ, T gọi to “Bác ơi! bác ơi!” nhưng không thấy ai trả lời. T nhìn xung quanh và phát hiện trên mái vòm bên trái theo hướng nhà có treo hai lồng chim, một lồng chim bên trong có 01 con chim Chào Mào và một lồng chim bên trong có 01 con chim Cu Đất. T đi đến chỗ treo lồng chim và dùng tay xách lồng chim có chim Chào Mào đi ra khỏi cổng nhà ông Đ. Sau đó, T điều khiển xe đạp quay lại thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, để tìm nơi bán chim.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T cầm lồng chim bên trong có 01 con chim Chào Mào đã trộm cắp được của ông Đ đến tiệm mua bán chim tại số 87 đường Cách Mạng Tháng Tám, thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, để bán cho ông Nguyễn Hữu H1 là chủ tiệm với giá 200.000 đồng. Sau đó, T cầm toàn bộ số tiền bán chim đi đến khu vực nghĩa địa đường Phan Bội Châu, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, mua heroine của một người phụ nữ không quen biết, không rõ địa chỉ và nhân thân lai lịch, để về sử dụng.
Tại kết luận định giá tài sản số: 62/KL-HĐĐGTS, ngày 10/10/2022, của Hội đồng định giá huyện Cư M’gar, kết luận: 01 lồng chim bằng khung gỗ đan song tre, hình hộp có 06 mặt, kích thước (cao x dài x rộng) là (43 x 30 x 30)cm có giá trị 100.000 đồng; 01 con chim, loại chim Chào Mào, chim con sống, đã trưởng thành có giá trị 370.000 đồng. Tổng giá trị là 470.000 đồng.
Tại kết luận giám định số: 1021/KL-KTHS, ngày 14/10/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Tập tin video có tên “8156494854965773076”, dung lượng 7.67 MB (8.050.404 bytes), mã MD5: 2D2573CF2AF117BF1F71685A38F D37A5: không phát hiện dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa.
Tại cáo trạng số 74/CT - VKS ngày 29 tháng 11 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Anh T như nội dung cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ ngày 10/10/2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 2015. Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar đã trả lại: 01 lồng chim bằng khung gỗ đan song tre, hình hộp có 06 mặt, kích thước (cao x dài x rộng) là (43 x 30 x 30)cm và 01 con chim, loại chim Chào Mào, chim còn sống, đã trưởng thành cho anh Nguyễn Văn Đ là chủ sở hữu hợp pháp; Trả 01 chiếc xe đạp màu trắng, có nhãn H1 ASAM, đã qua sử dụng cho cháu Trần Quốc Bảo H là chủ sở hữu hợp pháp
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu H1 trong vụ án không có yêu cầu bồi thường về dân sự đối với Trần Anh T nên không đề cập xử lý.
Bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, quan điểm của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 10 giờ, ngày 09/10/2022 tại thôn 3, xã Ea M’nang, huyện Cư M’gar, Trần Anh T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 lồng chim bằng khung gỗ đan song tre, hình hộp có 06 mặt, kích thước (cao x dài x rộng) là (43 x 30 x 30)cm bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống, đã trưởng thành của ông Nguyễn Văn Đ, có tổng giá trị 470.000 đồng thì bị phát hiện, xử lý.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Anh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 quy định
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và nhận thức, bị cáo phải biết tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Bản thân bị cáo ngày 16/02/2022 bị Tòa án nhân dân huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành xong hình phạt tù về bị cáo không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, muốn có tiền để mua ma túy sử dụng, coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 470.000 đồng. Do đó cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo.
Về nhân thân, các tình tiết, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu có 03 tiền án chưa được xóa án tích. Ngày 04/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 297/2019/HSST. Ngày 25/6/2020 chấp hành xong hình phạt tại Trại Giam Đắk Trung; Ngày 05/3/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 73/2021/HSST. Ngày 16/9/2021 chấp hành xong hình phạt tại Trại Giam Đắk Tân. Ngày 16/02/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 04/2022/HSST. Ngày 05/8/2022 chấp hành xong hình phạt tại Trại Giam Đắk Trung.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn, đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Hội đồng xét xử cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
Với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Trong vụ án này đối với Nguyễn Hữu H1 là người mua chim Chào Mào của Trần Anh T. Khi mua chim, H1 không biết tài sản T bán cho mình là do T phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar không đề cập xử lý đối với Nguyễn Hữu H1 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Trần Anh T vào ngày 09/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Čư M’gar đã xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch người phụ nữ trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Čư M’gar tiếp tục xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Anh T. Công an huyện Čư M’gar đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28/QĐ-XPHC ngày 06/11/2022 với hình thức Cảnh cáo là phù hợp.
Về vật chứng: Ngày 11/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar ra Quyết định xử lý vật chứng số 31/QĐ-ĐTTH trả 01 lồng chim bằng khung gỗ đan song tre, hình hộp có 06 mặt, kích thước (cao x dài x rộng) là (43 x 30 x 30)cm và 01 con chim, loại chim Chào Mào, chim còn sống, đã trưởng thành cho ông Nguyễn Văn Đ là chủ sở hữu hợp pháp; Ngày 06/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar ra Quyết định xử lý vật chứng số 34/QĐ-ĐTTH trả 01 chiếc xe đạp màu trắng, có nhãn H1 ASAM, đã qua sử dụng cho cháu Trần Quốc Bảo H là chủ sở hữu hợp pháp. Xét việc trao trả trên là phù hợp cần chấp nhận.
Đối với 01 tập tin video có tên “8156494854965773076”, dung lượng 7.67 MB do camera anh ninh của gia đình ông Nguyễn Văn Đ ghi lại sự việc Trần Anh T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 09/10/2022. Đây là vật chứng của vụ án nên cần lưu trữ cùng hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo T có được từ việc bán tài sản trộm cắp cho ông Nguyễn Văn Đ. Xét thấy đây là tài sản do phạm tội mà có nên cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền trên.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Hữu H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập để giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Anh T được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc đối tượng hộ nghèo.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1].Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015
Xử phạt bị cáo Trần Anh T 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 10/10/2022
[2].Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1,2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar đã trả lại 01 lồng chim bằng khung gỗ đan song tre, hình hộp có 06 mặt, kích thước (cao x dài x rộng) là (43 x 30 x 30)cm và bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống, đã trưởng thành cho ông Nguyễn Văn Đ là chủ sở hữu hợp pháp; Trả 01 chiếc xe đạp màu trắng, có nhãn H1 ASAM, đã qua sử dụng cho cháu Trần Quốc Bảo H là chủ sở hữu hợp pháp.
Truy thu sung vào ngân sách nhà nước bị cáo Trần Anh T 200.000 đồng.
[3].Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Anh T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk ; - VKSND tỉnh Đắk Lắk ; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk ; - Vụ giám đốc kiểm tra I; - CA huyện; VKS huyện CưM’gar; - T.H.A Dân sự; T.H.A Hình sự ; - Bị cáo, bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ; lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền Diệu |