- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2022/HS-ST, ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2022/HS-PT Ngày: 16-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hữu.
Các Thẩm phán: Ông Lê Quốc Hương và ông Võ Văn Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2022/TLPT-HS, ngày 19 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2022/HS-ST, ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 58/2022/QĐXXPT-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T; sinh năm 1982 tại Yên Bái; nơi cư trú: Buôn N, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; dân tộc kinh; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Nguyễn Huy M (đã chết) và con bà Mai Thị S (đã chết), có vợ là Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1983 và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, còn nhỏ sinh năm 2011; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo được tại ngoại, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 09/5/2022 Nguyễn Văn T đi đến nhà thuốc L, địa chỉ: Số 300 Nguyễn Tất T, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông để mua khẩu trang y tế. Khi đến T này phát hiện có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy màu trắng, có ốp màu đen đặt trên mặt tủ kính cách vị trí T đứng khoảng 40cm, thấy không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. Khi chị Q đưa khẩu trang T trả tiền cho chị Q và nhận nhận lại tiền thừa từ chị Q, T đã dùng tay phải nhận tiền còn tay trái cầm chiếc điện thoại Samsung Galaxy trên bỏ vào túi quần đang mặc rồi nhanh chóng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47L2 – 0060 về nhà cất giấu điện thoại ở đầu giường. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày T đón con đi học về, biết Công an đang truy tìm chiếc điện thoại bị mất trộm ở nhà thuốc L nên Tiến đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút để đầu thú, và giao nộp 01 điện thoại Samsung Galaxy và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu WICH màu xanh, biển kiểm soát 47L2 –0060.
Tại kết luận định giả tài sản số 13/KLUIDDG ngày 20 tháng 5 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Cư Jut, kết luận: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung AS2s 5G có mặt lưng màu trắng, Ram 8Gb, bộ nhớ trong 128Gb tại thời điểm bị xâm hại có trị giá là 4.500.000 đồng: 01 (một) ốp lưng của điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A52s 5G màu đen, chất liệu nhựa có kích thước (7,5 x 16) cm có trị giá 30.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2022/HS-ST, ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông đã quyết định:
Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022 bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jút kết án về tội “Trộm cắp tài sản”quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm và kết luận: Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh: Bản án sơ thẩm số: 29/2022/HS-ST, ngày 12-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội và bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện trình diện, khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã được trả lại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định giá trị tài sản để cấu thành tội trộm cắp tài sản là “Từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…” trong vụ án bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp tài sản có tổng giá trị là 4.530.000 đồng, thấy rằng mức độ thiệt hại không lớn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là đã bỏ sót tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo nên cần áp dụng cho bị cáo, ngoài ra bị cáo thực hiện hành vi là bột phát, khi phát hiện tài sản của bị hại không được quản lý tốt thì bị cáo mới nảy sinh ý định và thực hiện hành vi, mặt khác bị cáo có nhân thân tốt. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo khi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu và có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo là bất lợi cho bị cáo. Việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giữ nguyên mức hình phạt như cấp sơ thẩm đã áp dụng nhưng cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQHĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, kháng cáo của bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HS-ST, ngày 12-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút.
. Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2022/HS-ST, ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày (16/12/2022).
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Tp.HCM; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh Đăk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông; - Công an huyện Cư Jút; - VKSND huyện Cư Jút; - TAND huyện Cư Jút; - Ủy ban nhân dân xã T; - Chi cục THADS huyện Cư Jút; - Bị cáo, - Lưu: THCTP, THS, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Lê Văn Hữu |