vanban.org

Bản án 75/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 27/05/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2022/HS-ST ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về hình phạt.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đưa hối lộ”; thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Hậu Mỹ Trinh, huyện Cái Bè, tỉnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Đưa hối lộ” - phạm tội đưa hối lộ (điều 364 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2022/HS-ST ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HS-PT
Ngày: 27 - 5 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Xuân Miễn

Ông Nguyễn Trọng Quế

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Lê Kiều Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2022/TLPT-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Phạm Văn T; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2022/HS-ST ngày 01 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh ngày: 16/01/1999; nơi cư trú: Ấp Mỹ Trinh A, xã HMT, huyện CB, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Hồng Giống và bà: Phạm Thị Thủy; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 06/7/2021; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư, Nguyễn Văn Nuôi – Văn phòng Luật sư Ánh Sáng, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Quyết định số 21/QĐ-CAT-PV01 và Kế hoạch số 29/KH CAT-PV01 ngày 24/4/2020 về việc thành lập tổ tuần tra kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự vào ban đêm (gọi tắt là tổ 21) của Công an tỉnh Cà Mau.

Lúc 02 giờ ngày 16/02/2021, tổ 21 Công an tỉnh Cà Mau tuần tra tuyến đường Trần Hưng Đạo, khóm 1, phường 5, thành phố Cà Mau, dừng kiểm tra xe 63B1-514.69, do Phạm Nguyễn Khánh Duy, sinh năm 2003, chở Phạm Văn T ngồi phía sau, phát hiện Duy là người chưa đủ 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50cm3 trở lên nên lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ phương tiện vi phạm. Do xe 63B1-514.69, T đứng tên sở hữu, nên T đến gặp ông Lê Hoàng Đum – Phó Tổ Trưởng tổ 21 đang ngồi trên xe ô tô đỗ cách khoảng 03-05 mét chỉ đạo kiểm tra. T xin ông Đum bỏ qua lỗi vi phạm của Duy và xin không bị giữ xe vì nhà ở xa. Phạm Văn T lấy 2.000.000 đồng, gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, kẹp vào biên bản vi phạm đưa cho ông Lê Hoàng Đum xin bỏ qua lỗi vi phạm. Ông Đum nhắc nhở không được đưa tiền hối lộ cho lực lượng làm nhiệm vụ. T tiếp tục năn nỉ, đưa tiền cho ông Đum, xin bỏ qua lỗi vi phạm. Ông Đum chỉ đạo lực lượng Tổ 21 mời T về trụ sở Cảnh sát 113 tiến hành lập biên bản về hành vi đưa hối lộ của T. Tang vật thu giữ 04 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000đ, số se ri: EZ 17853512; HY 15797745; BT 17047375; HT 10639688. Vụ việc chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2022/HS-ST ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 364; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phạm Văn T 03 tháng tù về tội “Đưa hối lộ”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngày 02 tháng 03 năm 2022, bị cáo Phạm Văn T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2022/HS-ST ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn T thừa nhận: Lúc 02 giờ ngày 16/02/2021, Phạm Văn T bị Tổ 21 tuần tra kiểm soát Công an tỉnh Cà Mau lập biên bản phạm tội quả tang về hành vi đưa hối lộ cho ông Lê Hoàng Đum – Phó Tổ Trưởng tổ 21 số tiền 2.000.000 đồng. Mục đích yêu cầu ông Đum bỏ qua lỗi vi phạm, không tạm giữ xe do trước đó Phạm Nguyễn Khánh Duy là người chưa đủ 18 tuổi điều khiển xe mô tô trên 50 cm3, biển số 63B1-514.69 chở Phạm Văn T đi trên đường Trần Hưng Đạo, khóm 1, phường 5, thành phố Cà Mau bị lực lượng Tổ 21 kiểm tra lập biên bản vi phạm.

Hành vi của Phạm Văn T đưa tiền cho lực lượng cảnh sát đang làm nhiệm vụ kiểm tra giao thông, mục đích xin được bỏ qua vi phạm không bị xử phạt, không bị giữ xe là vi phạm pháp luật hình sự, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước và của người thực hiện công vụ. Án sơ thẩm số: 38/2022/HS-ST ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử Phạm Văn T phạm tội “Đưa hối lộ” theo điểm a khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét kháng cáo của Phạm Văn T nhận thấy, bị cáo là người không tiền án, tiền sự; tuổi đời còn trẻ, nhất thời phạm tội, số tiền phạm tội của bị cáo không lớn. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có người thân có công với nước. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo loại hình phạt tù với mức hình phạt 03 tháng là có phần nghiêm khắc. Cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm áp dụng loại hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe, giáo dục để bị cáo có cơ hội tự sữa chửa trở thành người tốt hơn; đồng thời cũng đảm bảo được yêu cầu phòng ngừa chung cho xã hội.

Do bị cáo bị phạt cải tạo không giam giữ nên phải chịu nghĩa vụ khấu trừ một phần thu nhập theo quy định. Tại phiên tòa bị cáo khai thu nhập bình quân từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng một tháng. Vì vậy, cần buộc bị cáo nộp khấu trừ thu nhận hàng tháng số tiền 350.000 đồng (7.000.000 đồng x 05%). Do kháng cáo được chấp nhận, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2022/HS-ST ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về hình phạt.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 364; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đưa hối lộ”; thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Hậu Mỹ Trinh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Buộc Phạm Văn T phải nộp khấu trừ thu nhập 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) mỗi tháng trong thời gian chấp hành hình phạt.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Phạm Văn T không phải chịu.

4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ