vanban.org

Bản án 75/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao b cáo Lê Th B T cho Uỷ an nhân dân phường Hòa Vinh, th xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ nh tại Luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đinh H và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Giao b cáo Lê Th B T cho Uỷ an nhân dân phường Hòa Vinh, th xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HS-PT
Ngày: 22 - 3 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Long

Các Thẩm phán:

Ông Trương Công Thi

Ông Nguyễn Văn Tào

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 578/2021/TLPT-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với cáo Nguyễn Đinh H và đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích”,“Che dấu tội phạm”,“Không tố giác tội phạm”; do có kháng cáo của các cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2021/HSST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Đinh H (tên gọi khác: H P), sinh năm 1983; nơi đăng ký thường trú: tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; giới tính: nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1953 và à Đinh Th C, sinh năm 1956; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 20/11/2001, Tòa án nhân dân tối cao (nay là Tòa án nhân dân cấp cao) tại Đà Nẵng xử phúc thẩm phạt 05 năm tù về tội “cố ý gây thương tích” theo quy đ nh tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; ngày 04/7/2005 Ủy an nhân dân tỉnh Phú Yên quyết đ nh áp dụng iện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng về hành vi đánh người gây thương tích, gây rối trật tự công cộng; ngày 07/11/2014, Công an huyện Đ, tỉnh Phú Yên quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh ạc; ngày 01/10/2016, Công an huyện Đ, tỉnh Phú Yên Quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi đánh người khác gây thương tích; b ắt tạm giam từ ngày 08/9/2020 đến ngày 04/02/2021 thay đổi iện pháp ngăn chặn cho ảo lĩnh; b cáo tại ngoại, có mặt. 2. Nguyễn Duy Q, sinh năm 1996; nơi đăng ký thường trú: tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; giới tính: nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn gỉáo: không; con ông Nguyễn Đãng N, sinh năm 1966 và à Nguyễn Th L, sinh năm 1968; tiền án tiền sự: không; nhân thân: Ngày 09/5/2017 Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi đánh người khác gây thương tích; b ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2020 đến ngày 12/12/2020 thay đổi iện pháp ngăn chặn cho ảo lĩnh; b cáo đang tạm giam trong vụ án khác. 3. Lương Thế C (tên gọi khác: C), sinh năm 1995; nơi đăng ký thường trú: thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; giới tính: nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Cha không xác đ nh và mẹ Lương Th Mỹ O; tiền án: không; tiền sự: Ngày 03/3/2020, Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: Ngày 02/6/2016, Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 06/7/2017 Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; b cáo tại ngoại, có mặt. 4. Nguyễn Công H1 (tên gọi khác: B), sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; giới tính: nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn H, sinh năm 1966 và à Trần Th K, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 11/11/2014, Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi đánh nhau; Ngày 16/3/2017, Công an phường 2, thành phố T, tỉnh Phú Yên quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh ạc; b cáo tại ngoại, có mặt. 5. Lê Thị B T, sinh năm 1996; nơi đăng ký thường trú: tỉnh Phú Yên; nơi tạm trú: Phường 8, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: nhân viên phục vụ; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; giới tính: nữ; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn V (chết) và à Lưu Th Đ, sinh năm 1963; tiền án, tiền sự: không; b cáo tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/9/2020, Nguyễn Bá T thấy xe ô tô của Huỳnh Th Kim M (người yêu cũ của T) trước quán C Coffee (đ a chỉ thành phố T, tỉnh Phú Yên) nên T vào để nói chuyện với M thì thấy M ngồi chơi với Nguyễn Tùng L, Tr nh Văn H, Nguyễn Vũ Minh T và một số người khác. Do nghĩ M và T có tình cảm với nhau nên T gọi M, H ra ngoài nói chuyện, H nói “có chuyện gì anh chừ nói ở đây”, T dùng tay đánh vào mặt H thì anh Võ Q B (chủ quán) cùng M can ngăn ôm đẩy T ra, T đứng thách thức nhau với H thì có Lê Văn T và Nguyễn Duy Q là ạn của T đi đến quán C Coffee. T rút trong túi quần 01 con dao ấm ằng kim loại dài 17cm đâm H hướng từ trên xuống trúng mí mắt phải của H, anh B và M can ngăn ôm đẩy T ra, T dùng tay đánh trúng mặt H. L dùng vỏ chai ia đánh T thì T cầm mũ ảo hộ lao động và ghế gỗ cùng Q dùng ghế gỗ và àn gỗ đánh L. L dùng ghế gỗ đánh lại Q và T. T vùng vẫy khỏi sự can ngăn của B và M rồi cầm dao chạy đến đâm L 01 nhát hướng từ trên xuống trúng ngực phải của L, L chạy xuống phía sau quán ngất xỉu được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên cấp cứu thì chết.

Sau đó, T, T, Q đến phòng trọ của Nguyễn Đinh H ở phường 9, thành phố T, tỉnh Phú Yên, tại đây có H, Lê Th B T, Huỳnh Ngọc L, Lương Thế C, một lúc sau có Nguyễn Thành L và Lê Nam H đến chơi, thấy T b thương nên L, H đi gọi y tá đến khâu vết thương cho T. T vào phòng nói cho tất cả mọi người nghe T đánh nhau và đâm một người thanh niên thương tích nặng, không iết sống chết ra sao rồi đưa con dao ảo L đi vứt, L đem vứt vào ụi tre phía sau nhà trọ. T, H, T, L và C lên mạng xã hội Face ook tìm hiểu thông tin về vụ việc thì iết L T dùng dao đâm đã chết nên H dẫn T đi trốn. T điện thoại cho Trần Văn V nói là T vừa đánh nhau nên V ảo T vào nhà V thuê ở th xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa ở vài hôm. Sáng ngày 05/9/2020, T, Q, T đến nhà V. T kể rõ cho V nghe việc T dùng dao đâm chết người tại quán C Coffee, ở nhà V ăn uống và chơi đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì đi về Phú Yên trốn. Chiều cùng ngày, T điện thoại cho H ảo H có chỗ nào để T gặp mặt anh em lần cuối rồi đi đầu thú, H ảo T đến nhà T ( ạn gái H) ở khu phố 1, phường Hòa Vinh, th xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Nguyễn Công H1 nghe tin T đánh chết người nên đến phòng trọ của H tìm T rồi cùng H, C, L, T đến nhà T. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T đến nhà T tiếp tục nói cho H, C, L, T, H1 iết việc T đâm L chết tại quán C Coffee. Sáng ngày 06/9/2020, T đi mua đồ ăn sáng cho cả nhóm thì thấy lực lượng Công an nên về nói cho cả nhóm iết, H ảo T mượn xe mô tô chở H, T đi trốn, nên T mượn xe mô tô đưa cho H điều khiển chở T và T ra đến đường Q lộ 1A thì T quay lại, còn H, T đón taxi đến huyện Đ, tỉnh Phú Yên; đến 13 giờ cùng ngày H và T đi về lại thành phố T thì lực lượng Công an phát hiện ắt giữ. Bản kết luận giám đ nh pháp y số 188/TgT ngày 25/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Nguyễn Tùng L chết là do mất máu cấp. Bản kết luận giám đ nh pháp y số 261/GĐHS ngày 17/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Ỵên kểt luận: Thương tích của Nguyễn Tùng L là 51% do vật tày + vật sắc nhọn gây ra. Tại Công văn số 49/CVGĐ ngày 22/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên xác đ nh: Sau khi trừ vết thương vai phải đến ngực phải gây rách động mạch phổi, thương tích còn lại 8,7% (làm tròn 09%). Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về thương tích số 288/TgT ngày 14/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Tr nh Văn H thương tích 06% do vật có cạnh sắc gây nên. Ngày 21/9/2020, Nguyễn Văn H là đại diện hợp pháp của hại Nguyễn Tùng L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về việc L thương tích. Ngày 28/10/2020, hại Tr nh Văn H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. [2] Tại B n án hình s sơ thẩm số 33/2021/HSST ngày 15-11-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định: Tuyên ố: B cáo Nguyễn Bá T phạm các tội “Giết người” và “Cố ý gây thương tích”; các cáo Lê Văn T, Nguyễn Duy Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”; các cáo Nguyễn Đinh H, Lê Th B T phạm tội “Che giấu tội phạm”; các cáo Lê Văn C, Nguyễn Công H1, Huỳnh Ngọc L, Trần Văn V phạm tội “Không tố giác tội phạm”. Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123 và điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm , s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với cáo Nguyễn Bá T; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo Lê Văn T, Nguyễn Duy Q; áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cáo Nguyễn Duy Q; Áp dụng điểm khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo Nguyễn Đinh H, Lê Th B T; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cáo Nguyễn Đinh H; Áp dụng khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo Lương Thế C, Nguyễn Công H1; Xử phạt:

- B cáo Nguyễn Bá T 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Giết người” và 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 (Hai) tội uộc cáo phải chấp hành là 20 (Hai mươi) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giam 06/9/2020.

- B cáo Lê Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2020 đến ngày 12/12/2020.

- B cáo Nguyễn Duy Q 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2020 đến ngày 12/12/2020.

- B cáo Nguyễn Đinh H 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 08/9/2020 đến ngày 04/2/2021.

- B cáo Lương Thế C 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt thi hành án.

- B cáo Nguyễn Công H1 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt thi hành án.

- B cáo Lê Th B T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt thi hành án.

Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết đ nh về phần trách nhiệm dân sự; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

[3] Kháng cáo:

Ngày 16-11-2021 b cáo Lê Th B T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 17-11-2021 b cáo Nguyễn Đinh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 22-11-2021 b cáo Nguyễn Công H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 29-11-2021 b cáo Nguyễn Duy Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 30-11-2021 b cáo Lương Thế C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các cáo kháng cáo giữ nguyên kháng cáo, đối với b cáo Lê Th B T xin bổ sung nội dung kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt theo hướng được hưởng án treo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát iểu ý kiến: Tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung các kháng cáo: đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và kháng cáo xin được hưởng án treo của các b cáo Nguyễn Duy Q, Nguyễn Đinh H, Lương Thế C, Nguyễn Công H1, giữ nguyên quyết đ nh về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm đối với các cáo này. Riêng cáo Lê Th B T là nữ, phạm tội đồng phạm với vai trò giúp sức cho b cáo H nên có v trí thứ yếu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có tình tiết giảm nhẹ mới, nên đủ điều kiện cho hưởng án treo; đề ngh chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo đối với b cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh: [1] B cáo Nguyễn Bá T đã Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xử phạt 11 năm 06 tháng tù về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Cướp giật tài sản” nhưng chưa được xóa án tích. Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/9/2020, tại quán café C, đ a chỉ tại số 111 Lê Thánh Tôn, Phường 3, thành phố T, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Bá T đã có hành vi dùng dao ấm (là hung khí nguy hiểm) đâm trúng vào mí mắt phải anh Tr nh Văn H gây thương tích với tỷ lệ 06% và đâm vào ngực phải của anh Nguyễn Tùng L làm anh L chết. Bản án sơ thẩm đã quyết đ nh b cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Giết người” và “Cố ý gây thương tích” theo quy đ nh tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 và điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. [2] Cùng trong khoảng thời gian trên, các cáo Lê Văn T, Nguyên Duy Q đã có hành vi dùng mũ ảo hộ lao động, àn gỗ, ghế gỗ đánh anh Nguyễn Tùng L gây thương tích tỷ lệ 09%. Tuy tỷ lệ thương tích của b hại dưới 11% nhưng các cáo đã dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho người b hại. Các cáo T, Q khi tham gia đánh nhau chỉ là ộc phát, giữa các cáo T, Q và cáo T không có sự àn ạc, thống nhất ý chí trước khi tham gia đánh nhau, hành vi đánh L gây thương tích của T, Q độc lập với hành vi dùng dao đâm hại L của T. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm xác đ nh Q không có dấu hiệu đồng phạm với Nguyễn Bá T về tộ giết người và đã quyết đ nh Nguyễn Duy Q phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy đ nh tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. [3] Vào tối ngày 04/9/2020 và ngày 05/9/2020, tại phòng trọ của Nguyễn Đinh H ở Phường 9, thành phố T, tỉnh Phú Yên; sau đó là tại nhà của Trần Văn V thuê ở tỉnh Khánh Hòa, rồi đến tại nhà của Lê Th B T ở tỉnh Phú Yên; các cáo Nguyễn Đinh H, Lê Th B T đều biết rõ Nguyễn Bá T thực hiện tội phạm giết người nhưng đã có hành vi che giấu T. Các cáo Lương Thế C, Nguyễn Công H1 đều biết rõ T đã thực hiện tội phạm giết người, mặc dù các cáo có đủ thời gian và điều kiện áo cho Cơ quan Công an có thẩm quyền bắt giữ T, nhưng các cáo đã không trình áo. Bản án sơ thẩm đã quyết đ nh các b cáo Nguyễn Đinh H, Lê Th B T phạm tội “Che giấu tội phạm” theo quy đ nh tại điểm b khoản 1 Điều 389 Bộ luật Hình sự; các cáo Lương Thế C, Nguyễn Công H1 phạm tội “Không tố giác tội phạm” theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguyễn Duy Q thì thấy, b cáo đã từng b xử lý hành chính về hành vi “Đánh người khác gây thương tích” nay lại tiếp tục có hành vi gây thương tích cho người khác. B cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường họp ít nghiêm trọng. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt b cáo 09 tháng tù là đã có phần nhẹ; tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên không chấp nhận kháng cáo của b cáo.

Đối với các cáo Nguyễn Đinh H, khi biết Nguyễn Bá T thực hiện tội phạm giết người, đã tích cực giúp cho T lẫn trốn. B cáo Nguyễn Đinh H có nhân thân xấú, trước đó đã kết án về tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt hành chính về các hành vi “Đánh ạc”, “Đánh người gây thương tích”. B cáo Nguyễn Đinh H được hưởng tình tiết gỉảm nhẹ thật thà khai áo, ăn năn hối cải theo quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; b cáo có mẹ mới mất nên có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền đ a phương xác nhận. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt b cáo 01 năm tù là phù hợp; tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên không chấp nhận kháng cáo của b cáo.

Đối với b cáo Lê Th B T, b cáo thực hiện hành vi phạm tội “Che giấu tội phạm” với vai trò giúp sức cho b cáo Nguyễn Đinh H. B cáo T không chủ động che giấu b cáo T mà thực hiện theo sự sai bảo của b cáo H (T là ạn gái của H). B cáo T được hưởng tình tiết gỉảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải theo quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy b cáo T đồng phạm với vai trò giúp sức nên có v trí thứ yếu, tại phiên tòa phúc thẩm cung cấp Giấy xác nhận của Chính quyền đ a phương về việc luôn chấp hành tốt các hoạt động phong trào, chưa từng vi phạm pháp luật, có hoàn cảnh gia đình khó khăn vì cha mất sớm, mẹ phải đi làm ăn xa; do đó cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do có thêm tình tiết giảm nhẹ mới và cáo T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đồng thời với tính chất và mức độ thứ yếu của hành vi phạm tội, thấy không cần thiết phải cách ly cáo, mà để b cáo được tự cải tạo tại nơi cư trú, dưới sự giám sát của chính quyền đ a phương cũng đủ giáo dục b cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của b cáo T.

Đối với các cáo Lương Thế C, Nguyễn Công H1 đều có nhân thân xấu, cụ thể: B cáo Lương Thế C nhiều lần b xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; cáo Nguyễn Công H1 b xử lý hành chính về các hành vi “Đánh nhau”, “Đánh ạc”. Bản án hình sự sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt mỗi b cáo 01 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên không chấp nhận kháng cáo của các cáo. [8] Các quyết đ nh khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét. Về án phí hình sự phúc thẩm: b cáo Lê Th B T không phải ch u; các cáo Nguyễn Đình H, Nguyễn Duy Q, Lương Thế C, Nguyễn Công H1, phải ch u án phí mỗi b cáo là 200.000 đồng, theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các cáo Nguyễn Đình H, Nguyễn Duy Q, Lương Thế C, Nguyễn Công H1 . Chấp nhận kháng cáo của b cáo Lê Th B T; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với b cáo Lê Th B T. 2. Về hình phạt đối với các cáo kháng cáo: 2.1- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự ; xử phạt b cáo Nguyễn Duy Q 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2020 đến ngày 12/12/2020. 2.2- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt b cáo Nguyễn Đinh H 01 (Một) năm tù về tội “Che giấu tội phạm”; thời hạn tù tính từ ngày ắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 08/9/2020 đến ngày 04/2/2021. 2.3- Áp dụng khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt b cáo Lương Thế C 01 (Một) năm tù về tội “Không tố giác tội phạm”; thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. 2.4- Áp dụng khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt b cáo Nguyễn Công H1 01 (Một) năm tù tội “Không tố giác tội phạm”; thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. 2.5- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt b cáo Lê Th B T 09 (Chín) tháng tù về tội “Che giấu tội phạm”; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao b cáo Lê Th B T cho Uỷ an nhân dân phường Hòa Vinh, th xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ nh tại Luật thi hành án hình sự.

3. Các phần quyết đ nh khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh , có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh . Đối với các khoản án phí hình sự sơ thẩm, thì Bản án hình sự sơ thẩm đã quyết đ nh cụ thể số tiền đối với từng b cáo; Bản án phúc thẩm giữ nguyên quyết đ nh của bản án sơ thẩm về phần nội dung này, các khoản tiền mà các cáo đã tự nguyện thi hành nộp trước khi xét xử phúc thẩm có Biên lai thu của Cơ quan thi hành án dân sự, thì Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền hoàn thành thủ tục thi hành án theo quy đ nh chung.

4. Về án phí hình sự phúc thẩm, buộc các cáo: Nguyễn Đình H, Nguyễn Duy Q, Lương Thế C, Nguyễn Công H1; mỗi b cáo phải ch u 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

B cáo Lê Th B T không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22-03-2022).

(Đã gi i thích chế định án treo)

Cỡ chữ