vanban.org

Bản án 75/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Đặng Minh T. Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên là Đặng Nguyễn Minh A, sinh ngày 01/11/2016 cho anh Đặng Minh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Hiện nay cháu A đang sống với anh T; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09-8-2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Mai Thị Ngọc Tuyết và bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Trân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 235/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/6/2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1993; Địa chỉ: khu phố …, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt

- Bị đơn: Anh Đặng Minh T, sinh năm 1986; Địa chỉ: khu phố …, phường P.., thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày được tóm tắt như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44/2016 ngày 03/6/2016. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống trong vấn đề nuôi dạy con nên vợ chồng kình cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Mâu thuẫn vợ chồng được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn. Chị L và anh T sống xa nhau từ tháng 4/2022 cho đến nay không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Đặng Nguyễn Minh A, sinh ngày 01/11/2016. Hiện nay cháu A đang sống với anh T; Ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Anh, không yêu cầu anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T thống nhất như lời trình bày của chị L. Ngoài nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng từ việc nuôi dạy con cái, ngoài ra không có mâu thuẫn nào khác. Bản thân muốn hàn gắn gia đình cùng nhau nuôi dạy con cái do đó không đồng ý ly hôn với chị L. Tuy nhiên chị L vẫn kiên quyết ly hôn nên anh T đồng ý ly hôn với chị L.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Đặng Nguyễn Minh A sinh ngày 01/11/2016. Hiện nay cháu A đang sống với anh T; Ly hôn, anh T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: anh T xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định. Đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị L cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chị L được ly hôn với anh T; Về con chung: Giao 01 con chung là cháu A cho anh T nuôi dưỡng, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên đề nghị HĐXX không xem xét; Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44/2016 ngày 03/6/2016 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Theo chị L và anh T, sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống trong vấn đề nuôi dạy con nên vợ chồng kình cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị L vẫn kiên quyết yêu cầu xin ly hôn với anh T và anh T cũng đồng ý ly hôn với chị L. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị L và anh T có 01 con chung tên là Đặng Nguyễn Minh A, sinh ngày 01/11/2016. Hiện nay cháu A đang sống với anh T; Xét thấy, từ lúc chị L và anh T sống xa nhau cháu A đều do anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục vẫn đảm bảo cuộc sống về thể chất và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của con, đồng thời tại biên bản xác minh đề ngày 18/7/2022, Trưởng thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên cung cấp: “Quá trình anh T chăm sóc cháu A vẫn đảm bảo việc chăm sóc, giáo dục về mặc tâm sinh lý và thể chất của cháu Anh, không có việc đánh đập, ngược đãi đối với cháu Anh. Hiện anh T đang làm công ty thiết kế đồ họa quảng cáo Loka có thu nhập ổn định và có thời gian chăm sóc, đưa đón cháu Anh đi học”. Do đó, để không xáo trộn cuộc sống của cháu A nên cần tiếp tục giao cháu Anh cho anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh T không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Nguyên đơn chị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Đặng Minh T.

2. Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên là Đặng Nguyễn Minh A, sinh ngày 01/11/2016 cho anh Đặng Minh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Hiện nay cháu A đang sống với anh T;

Về cấp dưỡng nuôi con: anh Đặng Minh T không yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực T nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp cần thiết có thể yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà chị L đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005349 ngày 07/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày tuyên án

Cỡ chữ