vanban.org

Bản án 75/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều U ly hôn anh Nguyễn Thanh B.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồ Minh Q, sinh ngày 03/3/2017 cho cho chị Hồ Thị Kiều U trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị U không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều U ly hôn anh Nguyễn Thanh B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2022
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa.

Ông Châu Văn Nhâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 31/5/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 503/2021/TLST-HNGĐ ngày 05/11/2021 về ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/4/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19/5/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Kiều U, sinh năm 1996

ĐKTT: Ấp 2, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Nai

Nơi ở hiện nay: Ấp Láng Me 1, xã Đ, huyện M, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1990

ĐKTT: Ấp 2, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

( Chị U, anh B vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2020, trong quá trình làm việc, nguyên đơn chị Hồ Thị Kiều U trình bày: Vào năm 2014, chị và anh B tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau, anh B không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Anh chị không còn sống chung với nhau từ tháng 6/2021 cho đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh B, do đó yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Hồ Minh Q, sinh ngày 03/3/2017. Hiện nay cháu Q đang sống cùng với chị U. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình làm việc bị đơn anh Nguyễn Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy không có lời trình bày.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc:

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U, chị U được ly hôn với anh B; Về con chung: giao con chung cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; anh B không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Hồ Thị Kiều U có đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Thanh B, do đó xác định chị U là nguyên đơn, anh B là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Chị Hồ Thị Kiều U có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Thanh B đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt chị U, anh B là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều U và anh Nguyễn Thanh B tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị U cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau, anh B không có trách nhiệm với vợ con. Anh B đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, anh B biết việc ly hôn nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh B không có thiện chí trong việc hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Hơn nữa, theo kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh chị tại địa phương cho thấy anh B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, tuy nhiên anh chị không còn sống chung với nhau nữa. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Từ khi anh B, chị U không sống chung với nhau cho đến nay thì chị U là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, việc nuôi con chung của chị U là đảm bảo. Vì vậy, cần thiết giao con chung cho chị Hồ Thị Kiều U tiếp tục nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu, là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Chị U không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị U trình bày không có, anh B không có lời khai, nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị U trình bày không có, anh B không có lời khai, nên không giải quyết.

Về án phí: Chị Hồ Thị Kiều U phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc Hội về Án phí và Lệ phí Tòa án.

TU xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều U ly hôn anh Nguyễn Thanh B.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồ Minh Q, sinh ngày 03/3/2017 cho cho chị Hồ Thị Kiều U trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị U không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Anh B được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hồ Thị Kiều U phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005837 ngày 22/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.

Chị Hồ Thị Kiều U, anh Nguyễn Thanh B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ