vanban.org

Bản án 75/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Hồng G được ly hôn với ông Trần V.

Về con chung: Giao 01 (Một) người con chung tên Trần Lê Gia H, sinh ngày 21/5/2018 cho bà Lê Thị Hồng G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời ông Trần V không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA - LH - Gấm - Vũ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Hồng G được ly hôn với ông Trần V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-6-2022.
V/v: “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông V Xuân Tuất.

2. Ông Phạm Văn Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 253/2022/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng G, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Ấp Tân Lập 2, xã Cây Gáo, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Trần V, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp Tân Lập 2, xã Cây Gáo, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(Bà G, ông V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng G trình bày:

Bà G và ông Trần V tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2017 tại UBND xã Cây Gáo, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 56/2017 ngày 24/10/2017. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do lối sống tính cách không phù hợp, thường xuyên cãi vã. Nay tình cảm không hàn gắn được nên bà G xin ly hôn với ông V.

Về con chung: Ông bà có 01 người con chung tên Trần Lê Gia H, sinh ngày 21/5/2018. Ly hôn, bà G xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H. Tạm thời không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Trần V vắng mặt nên không có trình bày trình bày:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật.

Đối với việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thị Hồng G. Cho bà G được ly hôn với ông Trần V.

Về con chung: Giao 01 người con chung tên Trần Lê Gia H, sinh ngày 21/5/2018 cho bà G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung nợ chung: Do ông V vắng mặt không có trình bày nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016 buộc bà G phải nộp án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

1.1. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, yêu cầu khởi kiện và quy định pháp luật, “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc trường hợp quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom thực hiện thủ tục thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

1.2. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Lê Thị Hồng G có đơn xin vắng mặt, ông Trần V vắng mặt nhiều lần không có lý do, căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xết xử quyết định xét xử vắng mặt các bên đương sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng G và ông Trần V tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2017 tại UBND xã Cây Gáo, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 56/2017 ngày 24/10/2017 nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà G xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do lối sống tính cách không phù hợp, thường xuyên cãi vã. Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông V đến Tòa án để làm việc, hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử nhiều lần nhưng ông V vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân trên. Xét thấy, vợ chồng bà G, ông V không còn không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân giữa bà G, ông V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà G xin ly hôn với ông V là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Bà G, ông V có 01 người con chung tên Trần Lê Gia H, sinh ngày 21/5/2018. Ly hôn, bà G xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H. Hội đồng xét xử xét thấy cháu H còn nhỏ cần sự chăm sóc, nuôi dạy của người mẹ nhiều hơn nên giao cháu H cho bà G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà G không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung và nợ chung: Do ông V vắng mặt không có trình bày nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

. Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bà G phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Hồng G được ly hôn với ông Trần V.

2. Về con chung: Giao 01 (Một) người con chung tên Trần Lê Gia H, sinh ngày 21/5/2018 cho bà Lê Thị Hồng G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời ông Trần V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí: Bà Lê Thị Hồng G phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tại Biên lai thu số 0000752 ngày 15/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà G đã nộp đủ án phí.

7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ