- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số: 75/2022/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 9 -2022 V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Th
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2022/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 9 -2022 V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- T phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Quốc T
Các hội thẩm nhân dân:1. Bà Phạm Thị Thanh Hương
2. Bà Phan Thị Vui
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 186/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:79/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 09/8/2022; quyết định hoãn phiên tòa số 35/2022/QĐST- DS ngày 29/8/2022; Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thị Th, sinh năm 1987, vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Tổ 5, ấp 3, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước
- Bị đơn: Ông Điểu T, sinh năm 1985, vắng mặt
Địa chỉ: Tổ 2, ấp 2, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Thị Th trình bày: Bà Thị Th và ông Điểu T sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 09 năm thì thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, nguyên nhân là do vợ chồng cự cải và xúc phạm đánh đập vợ con, không có tiếng nói chung và ông T không còn quan tâm lo lắng chăm sóc, yêu thương và tôn trọng vợ con. Bà Thị Th nhận thấy cuộc sống tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục, vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Vì vậy bà Thị Th làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Điểu T. Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên gồm cháu Điểu Thái A, sinh ngày 04/10/2011 và cháu Thị Bảo T, sinh ngày 08/10/2009. Hiện nay hai con chung đang ở với bà Thị Th được bà Thị Th nuôi dưỡng nên bà Thyêu cầu tòa án giải quyết được nuôi hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Thị Th không yêu cầu ông Điểu T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng
Bị đơn ông Điểu T: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về việc thụ lý vụ, thông báo về việc tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên ông Điểu T không chấp hành nên không có lời khai và bản trình bày ý kiến của ông T.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Th:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bà Thị Th ly hôn với ông Điểu T. Về con chung: Giao con chung 02 con chung cháu Điểu Thái A, sinh ngày 04/10/2011 và cháu Thị Bảo T, sinh ngày 08/10/2009 cho bà Thị Th được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng T tự lao động được. Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về nợ chung: Nguyên đơn khai không nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ tranh chấp: Bà Thị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Điểu T, có nơi cư trú tại: Tổ 2, ấp 2, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước. Tòa án xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Về thủ tục tố tụng: Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến vụ án, tuy nhiên ông Điểu Tkhông chấp hành theo triệu tập của Tòa án, nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa ngày 29/8/2022 ông Điểu Tđã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa bà Thị Th vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Điểu Tđã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà Thị Th và ông Điểu T
- Xét yêu cầu khởi kiện của bà Thị Th thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thị Th và ông Điểu Ttự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước. Hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Thị Th xác nhận đời sống chung không hạnh phúc, do vợ chồng bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề của cuộc sống. Hiện nay vợ chồng đã ly thân. Qua xác minh tại nơi cư trú của đương sự đã xác định vợ chồng bà Thiệp, ông T có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là không hợp nhau, vợ chồng không còn chung sống hạnh phúc, hiện nay bà Thiệp, ông T đã ly thân. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Thiệp, ông T đã trầm trọng kéo dài, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà Thyêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Qúa trình chung sống bà Th và ông T có 02 con chung cháu Điểu Thái A, sinh ngày 04/10/2011 và cháu Thị Bảo T, sinh ngày 08/10/2009, qua xác minh thực tế hiện nay cả 02 con chung đang ở với bà Thị Th, được bà Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, quá trình giải quyết vụ án bà Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết được trực tiếp nuôi 02 chung nên cần giao 02 con chung cháu Điểu Thái A, sinh ngày 04/10/2011 và cháu Thị Bảo T, sinh ngày 08/10/2009 cho bà Thị Th tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng T tự lao động được là phù hợp thực tế.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét
Về nợ chung: Nguyên đơn khai không nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự; Căn cứ các Điều 8, 51, 56, 58, 81, 82, 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Th
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bà Thị Th ly hôn với ông Điểu T(Theo giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 02 tháng 3 năm 2009 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước).
2. Về con chung: Giao 02 con chung cháu Điểu Thái A, sinh ngày 04/10/2011 và cháu Thị Bảo T, sinh ngày 08/10/2009 cho bà Thị Th trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng T tự lao động được.
Người trực tiếp nuôi con cùng các T viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đề việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa T niên, các bên có quyền thay đổi mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có nên không xem xét
5. Về nợ chung: Nguyên đơn khai không nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng nên không xem xét.
6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Thị Th đã nộp theo biên lai thu số 0013964 ngày 23/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.
7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - UBND xã A; - Các đương sự; - Lưu HS; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA DƯƠNG QUỐC T |