- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V đối với bị đơn bà Lê Thị L về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2022/DS-ST Ngày: 26-9-2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Sơn Tây
2. Ông Nguyễn Thanh Cần
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 162/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng V.
Địa chỉ: Số 89 L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Phú T, sinh năm 1990; chức vụ: chuyên viên xử lý nợ - VPBank; địa chỉ: khu phố N, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/6/2022) (có mặt)
- Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1989.
Địa chỉ: tổ B, khu phố 1, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn trình bày:
Căn cứ theo Hợp đồng cho vay số: LN2103133475188 ký ngày 22/3/2021 giữa Ngân hàng V (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và bà Lê Thị L, Ngân hàng có cho bà L vay số tiền 429.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng, tính từ ngày 24/3/2021 đến ngày 24/3/2025, mục đích sử dụng tiền vay để thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu Huyndai Accent, 1.4L, AT sản xuất mới 100%, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9%/năm, cố định trong 12 tháng, từ tháng thứ 13 trở đi, lãi suất định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần, mức điều chỉnh được xác định bằng lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 48 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểu điều chỉnh cộng biên độ 4,6%/năm. Lãi suất được cộng thêm 3% nếu khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ bảo hiểm đối với tài sản đảm bảo. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, 1.4 L, AT, biển số 61A - 912.23 theo Hợp đồng thế chấp số LN2103133475188 ký ngày 22/3/2021 thuộc sở hữu của bà Lê Thị L. Trong quá trình thực hiện hợp đồng này tạm tính đến ngày 12/4/2022, bà L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng 47.435.227 đồng, trong đó thu gốc là 35.748.000 đồng và thu lãi 11.687.227 đồng. Tuy nhiên, kể từ ngày 25/7/2021, bà L đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 12/4/2022, bà L còn nợ Ngân hàng số tiền là 412.245.919 đồng. Ngân hàng đã rất nhiều lần yêu cầu bà L thanh toán nợ nhưng bà L không thực hiện.
Do đó, Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết:
Buộc bà Lê Thị L trả ngay một lần cho Ngân hàng theo Hợp đồng cho vay số LN2103133475188 ký ngày 22/3/2021 tạm tính đến ngày 12/4/2022 với tổng số tiền 412.245.919 đồng, trong đó nợ gốc là 393.252.000 đồng và lãi là 18.993.919 đồng và thanh toán lãi quá hạn từ ngày 13/4/2022 theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký với Ngân hàng. Trường hợp bà Lê Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng sẽ yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, 1.4 L, AT, biển số 61A - 912.23 theo Hợp đồng thế chấp số LN2103133475188 ký ngày 22/3/2021 thuộc sở hữu của bà Lê Thị L.
Hiện nay, tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, 1.4 L, AT, biển số 61A - 912.23 do bà L là chủ sở hữu và là người trực tiếp sử dụng. Do đó, phía Ngân hàng không biết chiếc xe trên hiện đang ở đâu. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Lê Thị L nhưng bà L không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bà Lê Thị L thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 453.743.989 đồng, bao gồm nợ gốc là 393.252.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 26/9/2022 là 60.491.989 đồng và khoản lãi quá hạn kể từ ngày 27/9/2022 theo mức lãi suất thoả thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, 1.4 L, AT, biển số 61A - 912.23 theo Hợp đồng thế chấp số LN2103133475188 ký ngày 22/3/2021 thuộc sở hữu của bà Lê Thị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần về việc yêu cầu bị đơn bà Lê Thị L phải trả cho Ngân hàng số tiền tổng cộng 453.743.989 đồng, gồm nợ gốc là 393.252.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 26/9/2022 là 60.491.989 đồng và tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 27/9/2022 cho đến khi khách hàng thanh toán xong toàn bộ khoản nợ đối với hợp đồng. Đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô biển số 61A1 - 912.23 trong trường hợp bà L không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ thì đề nghị Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi xác định được xe, người trực tiếp quản lý sử dụng xe và đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng V khởi kiện bà Lê Thị L yêu cầu thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Bị đơn bà L có nơi cư trú tại thị xã T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là loại việc về tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn bà Lê Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L.
Về nội dung:
Về yêu cầu thanh toán nợ: Xét thấy, ngày 22/3/2021, bà Lê Thị L và Ngân hàng ký kết Hợp đồng cho vay số LN2103133475188 để vay số tiền 429.000.000 đồng. Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa hai bên thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân tổng số tiền 429.000.000 đồng và bà Lê Thị L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng 47.435.227 đồng, trong đó nợ gốc là 35.748.000 đồng và tiền lãi 11.687.227 đồng. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng là có cơ sở. Quá trình giải quyết vụ án, bà L cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc đã thanh toán một phần hay toàn bộ nợ gốc, lãi. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu bà Lê Thị L thanh toán tổng số tiền là 453.743.989 đồng, bao gồm nợ gốc là 393.252.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 26/9/2022 là 60.491.989 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 27/9/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở theo quy định tại Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng.
Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp: Giữa bà L và Ngân hàng đã giao kết Hợp đồng thế chấp số LN2103133475188 ngày 22/3/2021 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, 1.4 L, AT, biển số 61A - 912.23. Xét thấy, hợp đồng thế chấp nêu trên thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, hợp đồng đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật nên hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Theo Hợp đồng thế chấp số LN2103133475188 ngày 22/3/2021 hai bên thoả thuận: “Tài sản thế chấp do bên thế chấp quản lý, sử dụng. Bên thế chấp chịu trách nhiệm tự quản lý và sử dụng, khai thác tài sản thế chấp theo đúng các mục đích sử dụng và chức năng bình thường của tài sản thế chấp…trường hợp bên thế chấp có nhu cầu cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp hay thực hiện bất kỳ giao dịch nào liên quan tới tài sản thế chấp thì phải thông báo và được sự đồng ý bằng văn bản của bên Ngân hàng trước khi thực hiện…”. Như vậy, bà L là người quản lý, sử dụng tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, 1.4 L, AT, biển số 61A - 912.23. Phía Ngân hàng không có văn bản hay ý kiến nào về việc cho phép bà L thực hiện giao dịch đối với tài sản thế chấp trên. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp trên nhưng do bà L không hợp tác, không đưa xe đến địa điểm được chỉ định nên việc xem xét, thẩm định tại chỗ không thể thực hiện được. Tuy nhiên, việc không tiến hành xem xét, thẩm định được đối với tài sản thế chấp là do lỗi của người thế chấp, không làm ảnh hưởng đến quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thanh toán nợ của Ngân hàng trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện. Vì vậy, ý kiến về việc tách yêu cầu về việc phát mại tài sản thế chấp để giải quyết trong vụ án khác của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp, dẫn đến không giải quyết triệt để vụ án, không đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở chấp nhận.
Do việc xem xét, thẩm định tại chỗ không thực hiện được nên không phát sinh chi phí tố tụng. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng đã nộp tại Toà án.
Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương là phù hợp một phần.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn bà Lê Thị L phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, tương đương số tiền 22.149.759 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 147, 227, 228, 235, 244, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 320, 323 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V đối với bị đơn bà Lê Thị L về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Bà Lê Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng V tổng số tiền là 453.743.989 đồng, trong đó nợ gốc là 393.252.000 đồng và tiền lãi đến ngày 26/9/2022 là 60.491.989 đồng.
Kể từ ngày 27/9/2022 cho đến khi thi hành án xong, bà Lê Thị L còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Trường hợp bà Lê Thị L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ trên thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, 1.4 L, AT, biển số 61A - 912.23 theo Hợp đồng thế chấp số LN2103133475188 ngày 22/3/2021 để thu hồi nợ.
3. Về chi phí tố tụng: Hoàn trả cho Ngân hàng V số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng.
4. Án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị L phải chịu số tiền 22.149.759 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng V số tiền 10.245.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006094 ngày 21/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - CCTHADS thị xã Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Trung |