vanban.org

Bản án 75/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 14/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng Ph 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Hoàng P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng Ph 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật hình sự tuyên bố; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN NHÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 75/2021/HS-ST
Ngày 14-07-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

Ông Nguyễn Tấn Hậu

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2021/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Ngô Hoàng Ph, (tên gọi khác Ph Lý) sinh ngày 17 tháng 4 năm 1990 tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: khóm Th, phường MT, thành phố LX, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Bửu Ph (chết) và bà Huỳnh Thị Út Nh, sinh năm 1960; bị cáo sống chung như vợ chồng với Phạm Thị Ngọc M, sinh năm 1997 và có 03 con lớn sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020;

Tiền án: Ngày 27 tháng 4 năm 2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 18 tháng 10 năm 2019 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, đi học hết lớp 3 thì nghỉ học. Ngày 13 tháng 01 năm 2004 bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 02 tháng 01 năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 30 tháng 4 năm 2009 chấp hành xong. Ngày 30 tháng 3 năm 2010 bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 12 tháng, đến ngày 30 tháng 3 năm 2011 chấp hành xong quyết định. Ngày 26 tháng 9 năm 2011, bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng, đến ngày 26 tháng 7 năm 2013 chấp hành xong quyết định. Ngày 25 tháng 01 năm 2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18 tháng 4 năm năm 2015 chấp hành xong. Ngày 15 tháng 9 năm 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng đến ngày 12 tháng 6 năm 2017 chấp hành xong quyết định.

Trong vụ án này bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18 tháng 3 năm 2021 đến nay.

Bị cáo có mặt tại Phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Trung Ng, sinh năm 1961. Địa chỉ: phường 2, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Phạm Thị Ngọc M, sinh năm 1997 (Có mặt);

2/ Ông Phạm Minh Ph, sinh năm 1990 (Vắng mặt);

Cùng địa chỉ: khóm Đ, phường MT, thành phố LX, tỉnh An Giang;

Người làm chứng: Em Lý Hải Y, sinh năm 2005 (Vắng mặt)

Người đại diện cho em Lý Hải Y: Chị Nguyễn Trâm A, sinh năm 1993. Địa chỉ: khóm Th, phường MT, thành phố LX, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 18 tháng 3 năm 2021, Ngô Hoàng Ph điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, biển số 67B2-548.02 chở Phạm Thị Ngọc M (chung sống như vợ chồng với Ph) đến khu vực phà Vàm Cống, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên để mua bánh mì. Khi đi qua quán cà phê Ngọc Thảo ở số 37/11, khóm Thới An A, phường Mỹ Thạnh, Ph nhìn thấy xe ôtô nhãn hiệu Toyota Fortuner màu bạc loại 7 chỗ, biển số 49A-185.73 đậu trên đường (trước quán cà phê Ngọc Thảo) nhưng không thấy người trên xe nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Thực hiện ý định, Ph dừng xe môtô cách xe ôtô khoảng 150m kêu M ở lại và nói dối với M là sang đường mặt tài sản. Sau đó, Ph đến mở cửa trước bên trái xe ôtô 49A-185.73 lấy trộm chiếc túi đeo chéo màu nâu, hiệu Jeep Buluo để ở cần số xe giấu vào trong áo thì bị các anh Nguyễn Đức Th, Hoàng Lê Đông Th và Nguyễn Văn D từ quán cà phê Ngọc Thảo đi ra nhìn thấy nên truy hô lên. Trong chiếc túi có 2 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max 256Gb màu xám và Iphone 7 Plus 32Gb màu bạc của ông Nguyễn Trung Ng. Ph ôm chiếc túi chạy đến nơi đậu xe mô tô kêu M điều khiển chở Ph đi. M điều khiển xe mô tô chở Ph trên đường ngược chiều theo hướng Long Xuyên đi Cần Thơ khoảng 500m thì đụng vào xe do ông Huỳnh Thiện T điều khiển theo hướng ngược lại làm 02 xe ngã xuống đường. Cùng lúc, anh Th chạy đến lấy chiếc túi rơi trên mặt đường. Ph đứng lên tiếp tục bỏ chạy khoảng 100m thì bị anh Trương Thanh A đuổi theo cùng với anh Th bắt giữ Ph giao cho Công an phường Mỹ Thạnh lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) túi đeo chéo, hiệu Jeep Buluo, màu nâu.

- 01 (một) điện thoại đi động hiệu Iphone 11 Pro Max 256Gb, màu xám, 01 (một) ốp lưng nhựa dẻo và 01 (một) sim Vinaphone.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu bạc, 01 (một) ốp lưng nhựa và 01 (một) sim Mobifone.

Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 56 ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định:

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max - 256Gb trị giá: 23.992.000đồng; 01 (một) ốp lưng nhựa dẻo trong điện thoại di động Iphone 11 Pro Max trị giá: 20.000đồng; 01 (một) sim điện thoại di động trả trước Vinaphone, số thuê bao xxxx.xxx.xxx trị giá 80.000đồng;

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus - 32 Gb trị giá: 5.994.000đồng; 01 (một) ốp lưng nhựa điện thoại di động Iphone 7 Plus trị giá 15.000đồng; 01 (một) sim điện thoại di động trả trước Mobiphone, số thuê bao xxxx.xxx.xxx trị giá 80.000đồng;

- 01 (một) túi xách đeo chéo, nhãn hiệu Jeep Buluo, kích thức 15cm x 25cm trị giá: 84.000đồng.

Tổng giá trị tài sản bằng: 30.265.000đồng (Ba mươi triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 57/CT-VKS, ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Ngô Hoàng Ph về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nêu không xem xét. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu xanh, biển số 67B2-548.02 không bị thu giữ trong vụ án này và đang bị tạm giữ trong vụ tại nạn giao thông giữa chị Phạm Thị Ngọc M với ông Huỳnh Thiện T. Do đó, không đặt ra vấn đề xem xét, chị M liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo đồng ý kết luận định giá đối với tài sản bị cáo trộm; không khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Nguyễn Trung Ng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra, thể hiện nội dung: Ngày 18 tháng 3 năm 2021 ông có mất các tài sản gồm 01 (một) túi đeo chéo, hiệu Jeep Buluo, màu nâu trong đó có 01 (một) điện thoại đi động hiệu Iphone 11 Pro Max 256Gb, màu xám và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu bạc. Hiện tại ông đã nhận lại được tài sản nên không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Ngọc M trình bày: Ph điều khiển xe mô tô biển số 67B2-548.02 chở chị đi mua bánh mì trên đường đi Ph dừng lại nói chị là quay lại nhặt đồ. Sau đó Ph quay lại kêu chị chạy đi. Chị điều khiển xe được một đoạn thì xảy ra va chạm với một người đàn ông. Việc Ph trộm tài sản của người khác để trong áo chị không biết. Xe mô tô chị chở Ph là của anh ruột Phạm Minh Ph mua và cho chị mượn để sử dụng. Trong vụ án này chị không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Minh Ph vắng mặt nhưng quá trình điều tra thể hiện nội dung: Xe mô tô biển số 67B2-548.02 là của anh mua lại của một người thanh niên ở phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang chưa sang tên. Anh cho em gái Phạm Thị Ngọc M mượn để sử dụng. Việc Ph trộm tài sản anh không biết.

Nhân chứng em Lý Hải Y vắng mặt nhưng quá trình điều tra thể hiện nội dung: Em Y nhìn thấy sự việc bị cáo Ph lấy trộm đồ của bị hại như nội dung cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tuy nhiên quá trình điều tra lời khai đã được làm rõ. Bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 15 giờ ngày 18 tháng 3 năm 2021 bị cáo lén lút mở cửa trước bên trái xe ô tô 49A-185.73 đậu trước quán cà phê Ngọc Thảo tại số 37/11, khóm Thới An A, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang để lấy trộm của ông Nguyễn Trung Ng 01 (một) túi đeo chéo, hiệu Jeep Buluo, màu nâu trong đó có 01 (một) điện thoại đi động hiệu Iphone 11 Pro Max 256Gb, màu xám và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu bạc. Kết luận về việc định giá tài sản số 56/KL.HĐ, ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định tổng giá trị tài sản bị cáo trộm là 30.265.000đồng (Ba mươi triệu, hai trắm sáu mươi lăm nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đồng ý với kết luận về việc định giá đối với tài sản bị cáo lấy trộm. Sự thừa nhận này phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, cáo trạng số 57/CT-VKS, ngày 27/5/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo đã 03 (ba) lần bị Tòa án xử phạt và 01 (một) lần bị đưa vào trường giáo dưỡng đều về hành vi trộm cắp tài sản. Nay lại tiếp tục bị đưa ra xét xử về hành vi trộm cắp tài sản. Ngoài ra còn nhiều lần đưa vào cơ sở chữa bệnh, cai nghiện về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Điều đó, chứng tỏ bị cáo có nhân thân rất xấu, xem thường pháp luật. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động nhưng không tìm một công việc tạo thu nhập hợp pháp nuôi sống bản thân và gia đình mà lại hết lần này đến lần khác đi trộm cắp tài sản của người khác để có tiền tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm để giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Ngày 18 tháng 10 năm 2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt của bản án số 48/2018/HSST, ngày 27 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, đến ngày 18 tháng 3 năm 2021 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong khi vẫn chưa được xóa án tích của bản án số 48/2018/HSST, ngày 27 tháng 4 năm 2018. Vì vậy, bị cáo còn bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng là tái phạm.

Do đó, đề nghị của Viện kiểm sát thành phố Long Xuyên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Không có nên không xem xét.

Đối với xe mô tô biển số 67B2-548.02 không bị thu giữ trong vụ án này và cũng không có ai yêu cầu gì liên quan trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với chị Phạm Thị Ngọc M, anh Phạm Minh Ph không biết việc bị cáo Ph trộm tài sản của người khác nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Long Xuyên không xem xét xử lý hình sự đối với chị M, anh Ph là có căn cứ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Ngô Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng Ph 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 3 năm 2021.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Hoàng Ph phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ