vanban.org

Bản án 75/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 03/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P (N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về việc xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ 01 thẻ nhớ USB, màu xanh chứa đoạn video thời lượng 03 phút 46 giây, quay lúc 16 giờ 36 phút ngày 01-4-2021; 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P (N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2021/HS-ST
Ngày: 03-11-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và bà Hoàng Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Huy Tiền - Kiểm Sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021:

Nguyễn Thị P (tên gọi khác: N), sinh năm 1988 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn K và bà Đào Thị Tuyết M; có 01 con, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2021.

Tiền án: 05.

Ngày 16-6-2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 108/2008/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16-6-2009.

Ngày 15-4-2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 78/2010/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04-5-2012.

Ngày 22-11-2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 323/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23-01-2015.

Ngày 24-9-2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 287/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19-6-2017.

Ngày 31-5-2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 26/2018/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17-12-2019.

Nhân thân: Ngày 30-9-2002, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 02 năm về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 2607/QĐ-UB của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk. Ngày 26-4-2004 chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính về cư trú tại địa phương. Ngày 19-7-2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án số 166/2005/HSST (thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích).

Ngày 01-8-2021 bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Gia Nghĩa ra Quyết định khởi tố vụ án số 71/QĐ-CQĐT-ĐCSHS đối với hành vi trộm cắp tài sản. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.

Bị hại: Chị Lương Thị Thùy L, sinh năm 2003 – vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 01-4-2021, Nguyễn Thị P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, BKS 47B2-415.XX đi từ thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lăk đến thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông gặp Hạnh (chưa rõ nhân thân lai lịch) để bán xe mô tô trên cho Hạnh. Khi tới thành phố Gia Nghĩa, Hạnh không có tiền nên nói đến nhà bạn của Hạnh để lấy tiền trả cho P và rủ P đi trộm cắp tài sản, P đồng ý. Sau đó, Hạnh chở P bằng xe mô tô trên, đến tiệm cắt tóc, gội đầu “Duyên” trên đường Quang Trung, thành phố Gia Nghĩa của chị Nguyễn Thị H. Tại đây, P giả vờ nói chuyện với chủ quán, còn Hạnh lấy trộm một chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Renno 5 của chị H. Sau đó, Hạnh tiếp tục điều khiển xe mô tô trên chở P đến quán trà sữa, ăn vặt tên “Sóc quán” thuộc TDP 2, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắk R’lấp của chị Lương Thị Thùy L hỏi mua viên chiên và trà sữa. Lúc chị Linh đang ở trong quầy pha chế làm đồ ăn, P phát hiện một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y1S, màu xanh đen của chị L để ở vị trí ngồi bệt gần quầy pha chế, còn Hạnh ngồi ở vị trí ngồi bệt cách quầy pha chế khoảng 04 mét. P đi lại trong quán rồi dùng gối ôm có sẵn tại đây che chiếc điện thoại lại. Sau khi chị L làm xong, P thanh toán tiền và yêu cầu làm thêm 10.000 đồng tiền viên chiên, rồi nói lấy hai ly trà sữa đi trước, một lát sẽ quay lại lấy viên chiên sau. Khi Hạnh đang lấy hai ly trà sữa thì P ngồi xuống vị trí để chiếc điện thoại của chị L, lấy trộm chiếc điện thoại rồi bỏ vào túi áo. Sau đó, P đưa điện thoại cho Hạnh, cả hai tiếp tục quay lại thành phố Gia Nghĩa.

Khi đến thành phố Gia Nghĩa (không rõ địa điểm cụ thể), Hạnh dừng lại gọi điện thoại còn P đi vệ sinh. Một lúc sau, P đi ra thì thấy Hạnh đã có tiền. Hạnh đưa cho P 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) và nói chiếc điện thoại trộm cắp tại thành phố Gia Nghĩa trị giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), mỗi người được 1.000.000 đồng (một triệu đồng), chiếc điện thoại trộm cắp tại huyện Đắk R’lấp trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng), mỗi người được 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Rồi Hạnh tiếp tục đưa cho P 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tiền mua xe mô tô của P. Sau khi lấy tiền, P bắt xe về lại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản P đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngoài ra, chị Lương Thị Thùy L còn trình báo mất một chiếc ví cầm tay màu đen, bên trong có 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng). Quá trình điều tra, không có căn cứ xác định P trộm cắp số tiền này.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản tại thành phố Gia Nghĩa mà Nguyễn Thị P đã khai nhận như trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đã ra Quyết định khởi tố vụ án số 71/QĐ-CQĐT-ĐCSHS ngày 01/8/2021, chưa khởi tố bị can. Hiện tại vụ án đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa điều tra, xử lý theo quy định.

Bản kết luận định giá tài sản số 16/KLHDĐG ngày 21-6-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk R’lấp kết luận:

01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y1s, màu xanh đen, số IMEI 1: 864739046170310, số IMEI 2: 0131491002127 đã qua sử dụng. Tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị: 2.185.000 đồng; 01 miếng dán bảo hiểm màn hình điện thoại di động, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị: 190.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 2.375.000 đồng (hai triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 78/CT-VKS-ĐL ngày 28-9-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp để xét xử Nguyễn Thị P về tội:“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị P khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện, bị cáo không bào chữa gì.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử lưu hồ sơ vụ án 01 (một) thẻ nhớ USB, màu xanh chứa đoạn video thời lượng 03 phút 46 giây, quay lúc 16 giờ 36 phút ngày 01-4-2021 tại quán trà sữa, ăn vặt “Sóc quán”; 01 (một) biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng ngày 22-3-2021 của Cửa hàng thế giới di động số 8 thuộc tổ 1, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắk R’lấp đối với chiếc điện thoại di động Vivo Y1s.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại chị Lương Thị Thùy L số tiền 3.000.000 đồng. Chị L không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 16 giờ ngày 01-4-2021, tại quán trà sữa, ăn vặt “Sóc quán” thuộc Tổ dân phố 2, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắk R’Lấp, Nguyễn Thị P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút trộm cắp 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y1s, màu xanh đen của chị Lương Thị Thùy L có trị giá 2.375.000 đồng (hai triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng). Bị cáo nhận thức được hành vi của mình xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng trật tự trị an của địa phương nhưng v n thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng tên Hạnh là người cùng bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến nay chưa xác minh được nhân thân, lai lịch và số tiền 12.000.000 đồng chị Lương Thị Thùy L trình báo mất cùng thời điểm mất điện thoại. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’lấp tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.

. Tình tiết định khung: Bị cáo Nguyễn Thị P có 05 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, lấy khoản lợi bất chính làm nguồn thu nhập. Do vậy, hành vi của bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Có tính chất chuyên nghiệp” và “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. V uyết định hình phạt: Bị cáo nhiều lần phạm tội, đã được giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt phạt nghiêm khắc để đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

. V trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. V việc xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) thẻ nhớ USB, màu xanh chứa đoạn video thời lượng 03 phút 46 giây, quay lúc 16 giờ 36 phút ngày 01-4-2021 tại quán trà sữa, ăn vặt “Sóc quán”; 01 (một) biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng ngày 22-3-2021 của Cửa hàng thế giới di động số 8 thuộc tổ 1, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắk R’lấp đối với chiếc điện thoại di động Vivo Y1s là tài liệu kèm theo vụ án, cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ.

. V án phí: Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P (N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về việc xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ 01 thẻ nhớ USB, màu xanh chứa đoạn video thời lượng 03 phút 46 giây, quay lúc 16 giờ 36 phút ngày 01-4-2021; 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng ngày 22-3-2021 của Cửa hàng thế giới di động số 8.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ