- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2021/HS-ST Ngày 10-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Lê Thanh Nam
Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Đăng Đông và ông Phạm Viết Trung
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị May – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Bình Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Dương Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2021/QĐST-HS ngày 07/12/2021 đối với bị cáo:
Đào Văn D, sinh năm 1983; nơi sinh: xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn D1 (đã chết) và bà Hà Thị D2; có vợ là Phạm Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2005 bị Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Đánh nhau; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/9/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang; có mặt.
Bị hại: Bà Trần Thị M, sinh năm 1951; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Người làm chứng:
- Anh Trần Văn N, sinh năm 1985.
- Chị Phạm Thị T, sinh năm 1968.
- Chị Trần Thị Q, sinh năm 1985.
- Ông Trần Văn Q1, sinh năm 1965.
Đều cư trú tại: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương.
(Tại phiên tòa, có mặt: Đào Văn D, chị Phạm Thị H; vắng mặt: bà Trần Thị M (bà M có mặt tại phiên tòa ngày 07/12/2021, vắng mặt tại phiên tòa ngày 10/12/2021), anh Trần Văn N, chị Phạm Thị T, anh Trần Văn Q, ông Trần Văn Q1).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 20/6/2021, Đào Văn D điều khiển xe ô tô BKS 30E-610.27 chở anh Đào Văn A, sinh năm 1984, cư trú tại phường Y, quận T, thành phố Hà Nội và anh Nhữ Văn H, sinh năm 1991, cư trú tại xã T, huyện T, thành phố Hà Nội đi từ thành phố Hà Nội về nhà D ở thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương. Khi đi về đến ngã 3 đường thôn H, xã L, D thấy tại khu vực cổng nhà bà Trần Thị M có đổ vật liệu xây dựng tràn ra đường gây ảnh hưởng đến việc đi lại. D mở kính xe và nói “Mẹ nhà ai đổ cát đá ra đường thế này”, lúc này bà M đang nằm ngủ tại gian buồng sát cạnh đường nghe thấy có nói “D ơi nhà tao xây nhà cho tao đổ nhờ”. Thấy vậy, D mở cửa xe xuống kiểm tra thấy có nhiều cát, đá tràn ra mặt đường không đảm bảo cho xe ô tô đi qua nên nói tiếp “đổ vô ý thức thế này”, thì anh Trần Văn N là con trai bà M đi ra và nói “mày nói ai vô ý thức” nên giữa anh N và D xảy ra lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau. D dùng tay nhặt đá (loại đá dăm) ném vào sân phía anh N đứng, anh N cầm đoạn gậy sắt chọc qua ô thoáng cổng sắt về phía D. Lúc này, bà M từ trong phòng ngủ đi ra sân kéo anh N vào trong nhà, chị Phạm Thị H (là vợ của D) đi đến can ngăn, đẩy D lên xe đi về nhưng D không về mà đi sang rãnh thoát nước đối diện cồng nhà bà M nhặt chiếc ghế gỗ, bẻ gãy phần chân ghế kích thước (42x4x4)cm cầm ném vào sân nhà bà M, không trúng ai. D tiếp tục bẻ thêm chân ghế gỗ kích thước (42x4x4)cm ném vào sân về phía bà M và anh N đứng thì trúng vào vùng mặt bên phải của bà M. Bà M kêu lên “con ơi mẹ vỡ mặt rồi” thì anh N nói lớn “D ơi mày giết mẹ tao rồi”. Thấy vậy, D lên xe ôtô đi về nhà, bà M được gia đình đưa đến Trạm y tế xã L sơ cứu vết thương rồi đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương cấp cứu và điều trị từ ngày 20/6/2021 đến ngày 28/6/2021 ra viện.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 196/TgT ngày 21/7/2021 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận: Bà Trần Thị M bị chấn thương gãy xương gò má cung tiếp phải, xương hàm trên bên phải, đã mổ xử lý. Hiện còn phương tiện kết xương, xoang hàm phải gãy di lệch, để lại 03 sẹo vết thương, sẹo mổ vùng mặt phải kích thước nhỏ. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra; bà M bị người khác dùng các đoạn khúc gỗ như Công an huyện Bình Giang mô tả tác động vào mặt đều có thể gây ra tổn thương. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 29%.
Tại bản Cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 29-10-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố Đào Văn D về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND huyện Bình Giang truy tố về tội danh và điều luật như bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt.
- Bị hại là bà Trần Thị M (có mặt tại phiên tòa ngày 07/12/2021) xác định sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo đã đến xin lỗi và bồi thường cho bà số tiền 120 triệu đồng, bà đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào khác; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương bởi hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, mẹ già, con còn nhỏ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Phạm Thị H xác định sau khi sự việc xảy ra, bị cáo bị tạm giam nên đã nhờ chị đứng ra xin lỗi và bồi thường cho người bị hại. Số tiền 120 triệu đồng bồi thường cho người bị hại là tài sản chung giữa chị và bị cáo nên chị không có ý kiến hoặc yêu cầu gì đối với số tiền này.
- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điểm d khoản 1 Điều 125; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Đào Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: Xử phạt Đào Văn D từ 33 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 đoạn khúc gỗ, trong đó 02 khúc có cùng kích thước (42x4x4)cm, 01 khúc có kích thước (43x5x4)cm, 01 khúc có kích thước (41,5x4x6)cm; 01 ván gỗ bị dập gãy kích thước (85x15x02)cm. Về án phí: Bị cáo Đào Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai và thương tích của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, hình ảnh thu thập qua camera, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 20/6/2021, tại thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương, Đào Văn D có hành vi dùng chân ghế gỗ kích thước (42x4x4)cm ném vào vùng mặt bên phải bà Trần Thị M, hậu quả làm bà M bị tổn hại 29% sức khỏe.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng chân ghế gỗ ném về phía người bị hại (là người già) trong điều kiện đêm tối, thiếu ánh sáng nhất định sẽ gây ra thương tích cho bị hại nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Bị cáo dùng chân ghế gỗ là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29% nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Về nhân thân: bị cáo đã một lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau nhưng đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; đã tác động để gia đình bồi thường cho người bị hại; được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: bị hại là bà Trần Thị M sinh ngày 30/3/1951, khi bị cáo gây thương tích cho bà M vào ngày 20/6/2021 bà M đã trên 70 tuổi nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo phạm tội do bột phát, trước đó giữa bị cáo và phía bị hại đã xảy ra xô xát; bị cáo tuy đã một lần bị xử phạt hành chính nhưng đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; tuy phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo nên xét thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 120.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: 04 đoạn khúc gỗ, trong đó 02 khúc có cùng kích thước (42x4x4)cm, 01 khúc có kích thước (43x5x4)cm, 01 khúc có kích thước (41,5x4x6)cm; 01 ván gỗ bị dập gãy kích thước (85x15x02)cm thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị M, bà M không yêu cầu nhận lại và đề nghị tiêu hủy. Xét thấy đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điểm d khoản 1 Điều 125; khoản 4 Điều 328; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Xử phạt: Đào Văn D 34 (ba mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị cáo Đào Văn D, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đào Văn D nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Đào Văn D cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 đoạn khúc gỗ, trong đó 02 khúc có cùng kích thước (42x4x4)cm, 01 khúc có kích thước (43x5x4)cm, 01 khúc có kích thước (41,5x4x6)cm; 01 ván gỗ bị dập gãy kích thước (85x15x02)cm.
(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương quản lý, có đặc điểm theo như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 03/11/2021, giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương và Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).
4. Về án phí: Bị cáo Đào Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Nhà tạm giữ – CA huyện Bình Giang; - VKSND huyện Bình Giang; - CQ CSĐT - Công an huyện Bình Giang; - CCTHADS huyện Bình Giang; - CQ THAHS – Công an huyện Bình Giang; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QL, NV liên quan; - Lưu HS; Tòa án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thanh Nam THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Nam |