vanban.org

Bản án 75/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị Hồng V được ly hôn anh Nguyễn Ngọc V1.

Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Đào Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng con chung 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc T sinh ngày 04/6/2004 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C sinh ngày 23/11/2014 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật, anh V1 không phải cấp dưỡng nuôi co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị V và anh V1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị Hồng V được ly hôn anh Nguyễn Ngọc V1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2021/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 9 năm 2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Duy Thiều

2. Ông Đinh Thế Cần

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2021/QĐXX-ST ngày 30/8/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Hồng V, sinh năm 1980

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Tiểu Khu 70, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc V1, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Chị V, anh V1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình và đơn xin xét xử vắng mặt thì nguyên đơn là chị Đào Thị Hồng V có yêu cầu khởi kiện và trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Hồng V kết hôn với anh Nguyễn Ngọc V1 trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 04/8/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống và làm việc tại thành phố Hà Nội từ năm 2003 đến năm 2010 sau đó chuyển lên sinh sống và làm việc tại thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La cho đến nay. Quá trình chung sống đến tháng 6 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống, tháng 06/2020 anh V1 về nhà bố mẹ đẻ tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, Chị V đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V1.

Về con chung: Chị V trình bày, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc T sinh ngày 04/6/2004 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C sinh ngày 23/11/2014 hiện 02 con chung đang ở cùng Chị V. Ly hôn Chị V đề nghị chị trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh V1 cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đối với bị đơn là anh Nguyễn Ngọc V1 tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đơn xin xét xử vắng mặt trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và Chị V có tự do tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 04/8/2003, quá trình chung sống vợ chống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng ly thân từ tháng 06/2020 cho đến nay. Nay Chị V có đơn xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn với chị Đào Thị Hồng V.

Về con chung: Vợ chồng có là cháu Nguyễn Ngọc T sinh ngày 04/6/2004 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C sinh ngày 23/11/2014 hiện 02 con chung đang ở cùng Chị V. Ly hôn anh V1 đề nghị giao 02 con chung cho Chị V nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng Chị V.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai của cháu Nguyễn Ngọc T ngày 08/7/2021 thể hiện:

Cháu Nguyễn Ngọc T sinh ngày 04/6/2004 là con đẻ của chị Đào Thị Hồng V và anh Nguyễn Ngọc V1. Từ khi bố mẹ cháu ly thân thì cháu T ở cùng mẹ cháu. Hiện cháu T đang học lớp 12 B1 trường Trung học Phổ thông T, thị trấn M. Nay bố mẹ cháu ly hôn thì cháu T có nguyện vọng ở với mẹ cháu là chị Đào Thị Hồng V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Đào Thị Hồng V và anh Nguyễn Ngọc V1 là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh thắng có Đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do Chị V, anh V1 có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Chị V, anh V1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành việc thu thập chứng cứ, vì vậy không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên toà.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của Chị V, anh V1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 04/8/2003 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, không tìm được tiếng nói chung. Chị V, anh V1 đã sống ly thân từ tháng 06/2020 cho đến nay và anh V1 đã về nhà bố mẹ đẻ tại Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình sinh sống. Quá trình thụ lý, giải quyết, Tòa án đã kiên trì hòa giải, động viên để hai bên đoàn tụ song không có kết quả, Chị V, anh V1 đều muốn ly hôn. Do đó, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho Chị V được ly hôn anh V1 là phù hợp quy định của pháp luật.

Về quan hệ con chung: Chị V và anh V1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc T sinh ngày 04/6/2004 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C sinh ngày 23/11/2014 hiện 02 con chung đang ở cùng Chị V. Ly hôn Chị V, anh V1 đều thống nhất giao 02 con chung cho Chị V nuôi dưỡng, anh V1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và cháu T cũng có nguyện vọng ở cùng Chị V. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của Chị V là chính đáng, từ khi vợ chồng ly thân Chị V vẫn chăm sóc con chu đáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của Chị V giao 02 con chung cho Chị V nuôi dưỡng, anh V1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V, anh V1 đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đào Thị Hồng V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị Hồng V được ly hôn anh Nguyễn Ngọc V1.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Đào Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng con chung 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc T sinh ngày 04/6/2004 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C sinh ngày 23/11/2014 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luật, anh V1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra để giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đào Thị Hồng V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được đối trừ với tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0004436 ngày 08/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Chị V đã nộp đủ tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị V, anh V1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ