vanban.org

Bản án 75/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N về xác định cha cho con chưa thành niên.

1. Xác định anh Đỗ Văn T không phải là cha đẻ của cháu Vũ Minh T sinh ra ngày 19/11/2015; Giấy chứng sinh số 41 quyển số 103do Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định cấp ngày 19/11/2015. Giữa anh Đỗ Văn T và cháu Vũ Minh T không có quyền và nghĩa vụ của cha con với nhau. 2. Xác định anh Vũ Văn N là cha đẻ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con chưa thành niên - Mai Thị N- Vũ Văn N1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N về xác định cha cho con chưa thành niên.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2021.
V/v: “Xác định cha cho con chưa thành niên”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Xuân Tiến.

Bà Đặng Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa:Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Khôi- Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 120/2021/TLST-HNGĐ ngày 06/7/2021 về việc “Xác định cha cho con chưa thành niên” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Mai Thị N; Sinh năm: 1974(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 13, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Bị đơn:Anh Vũ Văn N; Sinh năm: 1984(Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm 20, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Đỗ Văn T, sinh năm: 1976(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 13, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/06/2021 được bổ sung tại biên bản lấy lời khai ngày 30/07/2021, nguyên đơn chị Mai Thị N trình bày: Vào năm 1992, chị và anh Đỗ Văn T có tiến hành lễ cưới theo phong tục địa phương. Tuy nhiên, chị không nhớ có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình chung sống cùng nhau do vợ chồng không hòa hợp về tính cách bất đồng về quan điểm sống nên từ năm 2013 cho đến nay vợ chồng sống ly thân. Khi chị đi làm ăn xa nhà có quen biết và quan hệ tình cảm với anh Vũ Văn N. Sau đó, chị có thai và sinh ra cháu Vũ Minh T vào ngày 19/11/2015. Nay chị đề nghị Tòa án xác định anh Vũ Văn N là bố đẻ của cháu Vũ Minh T.

Tại phiên tòa, chị Mai Thị N vắng mặt và đơn xin giải quyết vắng mặt.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/07/2021 bị đơn anh Vũ Văn N có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: Anh và chị Mai Thị N có quan hệ tình cảm với nhau vào khoảng năm 2015. Chị N có sinh ra cháu Vũ Minh T vào ngày 19/5/2015. Anh xác nhận cháu T là con đẻ của anh. Nay chị Mai Thị N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu Vũ Minh T là con của anh. Anh nhất trí đối với yêu cầu của chị N.

Tại phiên tòa, anh Vũ Văn N vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Kết quả thu thập chứng cứ do Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái cho thấy: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn T hiện đang trú tại thôn 13, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái. Hiện nay anh T không có nhà, không rõ thời gian trở về nên Tòa án không thể tống đạt trực tiếp cho anh T được nên đã tiến hành tống đạt cho anh T theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh T không đến Tòa án để làm việc. Tại phiên tòa, anh T vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 68, Điều 69, Điều 70, Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N về xác định cha cho con chưa thành niên. Xác định anh Vũ Văn N là cha đẻ của cháu Vũ Minh T sinh ra ngày 19/11/2015; Giấy chứng sinh số 41 quyển số 103do Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định cấp ngày 19/11/2015. Giữa anh Vũ Văn N và cháu Vũ Minh T có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cha con với nhau theo quy định của pháp luật. Về án phí DSST: Miễn án phí cho anh N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Mai Thị N, anh Vũ Văn N vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh Đỗ Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung tranh chấp trong vụ án: Mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn T không có lời khai trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N. Tuy nhiên, chị N và anh N đều thống nhất trình bày anh chị có quan hệ yêu đương có quan hệ tình dục và không sử dụng biện pháp tránh thai. Thời kỳ này giữa chị và chồng là anh T đang sống ly thân. Đến khoảng tháng 2/2015 thì chị N đã có thai với anh N. Đến ngày 19/11/2015, chị N sinh cháu Vũ Minh T. Ngoài ra, theo Kết luận xét nghiệm ADN số 21716IG/DNA ngày 13/05/2021 của Công ty TNHH đầu tư và công nghệ GENPLUS xác định anh Vũ Văn N có quan hệ huyết thống bố con với cháu Vũ Minh T. Nên Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N về việc xác định cha cho con chưa thành niên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mai Thị N được miễn nộp án phí quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho anh N.

Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị N, anh Vũ Văn N, anh Đỗ Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 68, Điều 69, Điều 70, Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N về xác định cha cho con chưa thành niên.

1.1. Xác định anh Đỗ Văn T không phải là cha đẻ của cháu Vũ Minh T sinh ra ngày 19/11/2015; Giấy chứng sinh số 41 quyển số 103do Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định cấp ngày 19/11/2015. Giữa anh Đỗ Văn T và cháu Vũ Minh T không có quyền và nghĩa vụ của cha con với nhau.

1.2. Xác định anh Vũ Văn N là cha đẻ của cháu Vũ Minh T sinh ra ngày 19/11/2015; Giấy chứng sinh số 41 quyển số 103do Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định cấp ngày 19/11/2015. Giữa anh Vũ Văn N và cháu Vũ Minh T có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cha con với nhau theo quy định của pháp luật.

1.3. Chị Mai Thị N hoặc anh Vũ Văn N có quyền liên hệ với cơ quan hộ tịch để thực hiện đăng ký khai sinh cho con Vũ Minh T sinh ngày 19/11/2015 theo quy định của pháp luật

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Hoàn trả cho chị Mai Thị N số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0000495 ngày 06/7/2021. Miễn án phí cho anh Vũ Văn N.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị N, anh Vũ Văn N, anh Đỗ Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ