vanban.org

Bản án 75/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Vphạm tội:“Tàng trữ hàng cấm".

Xử phạt: Nguyễn Tiến V18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo cho UBND phường TĐ, thành phố TN giám sát và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Vũ - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Vphạm tội:“Tàng trữ hàng cấm".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TAND TP TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2020/HSST
Ngày: 19/3/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trọng Tú 2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Ngọc Anh - Cán bộ Toà án nhân dân TP TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:

Ông VXuân Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 64/2020/HSST ngày 25/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2020/QĐXXST - HS ngày 03/3/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến Vũ, Sinh ngày 30/5/1988; Tên gọi khác: Không; Nơi DKHKTT và chỗ ở: Tổ 12, phường TĐ, thành phố TN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe tự do; Con ông: Nguyễn Tiến L (Đã chết); Con bà: Phạm Thị - Sinh năm: 1960; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Khiếu Thị M

- Sinh năm 1988; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015 nhỏ sinh năm 2017; Cùng trú tại: Tổ 12, phường TĐ, thành phố TN, tỉnh TN;

- Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2019 đến ngày 22/12/2019 thì được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú.

(Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời làm chứng:

Chị Lò Thị H, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 2, phường C Th, thị xã N L, tỉnh YB.

Ngƣời chứng kiến:

1. Anh Đào Văn Thao, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

2. Ông Đào Văn Phương, sinh năm 1954 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ 20, phường TĐ, thành phố TN, TN.

3. Ông Phạm Văn Cảnh, sinh năm 1965 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 12, phường TĐ, thành phố TN, TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 20 phút ngày 19/12/2020 tổ công tác của Công an TP TN phối hợp với Công an phường TĐ, TP TN kiểm tra phòng trọ số 09 của nhà anh Đào Văn Thao có địa chỉ tại tổ 20, phường TĐ, thành phố TN. Qua kiểm tra xác định phòng trọ số 09 do chị Lò Thị Hiệp, sinh năm 1991, HKTT: Tổ 2, phường Cầu Thia, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái thuê ở và phát hiện trong nhà vệ sinh của phòng trọ số 9 có 01 thùng cát tông, bên trong thùng cát tông có 06 hộp hình hộp có KT (24 x 24 x 14,7)cm. Trong khi kiểm tra Nguyễn Tiến Vcũng đang có mặt trong phòng trọ số 9 và Nguyễn Tiến Vkhai nhận đó là pháo của Vmua về và gửi tại phòng trọ của chị Lò Thị Hiệp, mục đích để sử dụng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành cân xác định trọng lượng 06 hộp hình hộp có kích thước KT (24 x 24 x 14,7)cm thu giữ của Nguyễn Tiến Vcó trọng lượng là 23,5kg. Niêm phong trong bì ký hiệu B gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 02/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, kết luận: 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật kích thước 24cm x 24cm x 14,7cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ và vàng có in nhiều hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong chứa 100 (Một trăm) ống hình trụ, kích thước mỗi ống dài 14,7cm, đường kính 2,4cm được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu B là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của 06 (Sáu) hộp pháo trong niêm phong ký hiệu B là 23,5kg.

Hồi 18 giờ 20 ngày 19/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Tiến Vthuộc tổ 12, phường TĐ, thành phố TN, kết quả không phát hiện thu giữ gì.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Nguyễn Tiến Vũ, khai nhận: Khoảng đầu tháng 11/2029 do có nhu cầu mua pháo về để sử dụng vào dịp tết nguyên đán, nên Nguyễn Tiến Vđã đi xe khách lên khu vực đường biên tiểu ngạch thuộc tỉnh cao Bằng (Vkhông nhớ thuộc huyện nào của tỉnh Cao Bằng). Khi lên đến nơi thì Vliên hệ với một người Trung Quốc và đặt mua 06 hộp pháo loại 100 quả với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua xong Vmang số pháo mua được và đi ra bắt xe khách về TN rồi mang thẳng về phòng trọ của chị Lò Thị Hiệp và cất giấu tại phòng trọ của chị Hiệp, Vkhông nói cho chị Hiệp biết đó là pháo và chị Hiệp cũng không hỏi và không kiểm tra xem bên trong thùng cattong đựng gì. Đến khoảng 14 giờ 20 phút ngày 19/12/2019 khi Vđang cùng với chị Lò Thị Hiệp ở trong phòng trọ thì có Cơ quan công an đến kiểm tra và phát hiện số pháo của Vđang cất giữ trong phòng trọ của chị Hiệp và đã lập biên bản thu giữ vật chứng theo quy định.

Vật chứng của vụ án: 02 (Hai) hộp pháo kích thước 24cm x 24cm x 14,7cm là mẫu hoàn lại sau giám định. Hiện đang được bảo quản tại kho vật liệu nổ Công ty cổ phần cơ điện Luyện kim TN - Mỏ đá Núi Voi, chờ xử lý;

Tại bản cáo trạng số 73/CT- VKSTPTN, ngày 21/02/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Vvề tội “Tàng trữ hàng cấm” theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Vphạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 191; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Vtừ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) hộp pháo kích thước 24cm x 24cm x 14,7cm là mẫu hoàn lại sau giám định hiện đang được bảo quản tại kho vật liệu nổ Công ty cổ phần cơ điện Luyện kim TN - Mỏ đá Núi Voi.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất, bị cáo xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tiến Vtại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 19/12/2019, tại phòng trọ số 09 của gia đình ông Đào Văn Thao thuộc tổ 20, phường TĐ, thành phố TN, tỉnh TN. Nguyễn Tiến Vđã tàng trữ 23,5kg pháo nổ do Vmua của một người không quen biết tại khu vực biên giới giữa tỉnh Cao Bằng và Trung Quốc với giá 1.500.000 đồng mang về với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Hành vi của trên Nguyễn Tiến Vđủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ hàng cấm theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS mà các bị cáo được hưởng:

- Hành vi của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại mặt hàng. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.quy

. Về hình phạt: Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHH của bị cáo HĐXX thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, đã nhận thức rõ được hành vi sai trái của mình, có nơi cư trú rõ ràng, có đơn xin được cải tạo tại địa phương và được địa phương xác nhận vì vậy đủ điều kiện để áp dụng Điều 2 NQ 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đại diện của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN đề nghị hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, vì vậy không cần phạt bổ sung đối bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 191 BLHS.

. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) hộp pháo kích thước 24cm x 24cm x 14,7cm là mẫu hoàn lại sau giám định.

. Những vấn đề khác: Về nguồn gốc số pháo thu giữ, Nguyễn Tiến Vkhai mua của một người không quen biết tại tỉnh Cao Bằng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ xử lý.

. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Vphạm tội:“Tàng trữ hàng cấm".

Xử phạt: Nguyễn Tiến V18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo cho UBND phường TĐ, thành phố TN giám sát và giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưở ng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) hộp pháo kích thước 24cm x 24cm x 14,7cm là mẫu hoàn lại sau giám định.

(Hiện đang được niêm phong, bảo quản tại Công ty cổ phần cơ điện luyện kim TN - Chi nhánh mỏ đá Núi Voi.)

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ