- Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Mã Ngọc A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mã Ngọc A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 75/2020/HS-ST Ngày: 28/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG
TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đức Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Chung Kim Sang
2. Bà Lê Thị Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố RG xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2020/TLST-HS, ngày 11 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2020/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Mã Ngọc A - sinh năm 1985; nơi ĐKTT: số 106/27, đường N.T.H, khu phố 2, phường V.B, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: số 106/35/27, đường N.T.H, khu phố 2, phường V.B, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mã Kim Ph (đã chết) và bà Kha L; có vợ tên là Nguyễn Thị Thu T (đã ly hôn); con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền sự: không có; tiền án: ngày 28/7/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã T.U, tỉnh Bình Dương xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 24/11/2018 chấp hành xong, chưa được xóa án tích; từ ngày 20/11/2019 đến ngày 27/11/2019, có hành vi trộm cắp tài sản; ngày 27/11/2019 bị bắt quả tang và bị tạm giữ; ngày 03/12/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố RG khởi tố, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố RG cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Nguyễn Hòa B – sinh năm 1975 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: số 38, đường T.H.D, phường A.B, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
Nguyễn Anh T – sinh năm 1995 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: số 169/1A, đường N.T.T, khu phố L.T.H.G, phường V.T, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
Nguyễn Hoàng E – sinh năm 1993 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Nguyễn V.T, xã T.L, huyện GR, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Phạm Thanh H – sinh năm 1986 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: số 463, đường M.C, phường V.T, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
Nguyễn Bá Tr – sinh năm 1990 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: số 114, đường N.Q, phường V.B, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
Nguyễn Văn U – sinh năm 1980 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: số 957C, đường N.Q, phường A.H, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
Nguyễn Văn G – sinh năm 1952 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: số 246/28, đường M.C, khu phố M.C, phường V.T, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
Nguyễn Thị Th – sinh năm 1963 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: số 106/6, đường N.T.H, khu phố 2, phường V.B, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
- Người chứng kiến:
Nguyễn Minh Nh – sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: số 466, đường N.T.T, phường V.L, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.
Tăng Văn Ng – sinh năm 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ:ấp Vĩnh Thành A, xã V.H.H, huyện C.T, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mã Ngọc A là người có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Do muốn có tiền tiêu xài nên A đã nảy sinh ý định tìm tài sản sơ hở của người khác để lấy trộm. Vào khoảng 10 giờ ngày 27/11/2019, Mã Ngọc A điều khiển xe mô-tô nhãn hiệu Attila màu đỏ, biển kiểm soát số: 68T5-8064 (xe do Nguyễn Thị Th cho A mượn để làm phương tiện đi lại hàng ngày) đi đến trước quán cà phê BuBu tại địa chỉ số 466, đường N.T.T, phường V.L thành phố RG thì A thấy có 01 (một) xe mô-tô nhãn hiệu Suzuki Viva, màu xanh, biển kiểm soát số: 68S1-5882, trên xe có để 01 (một) ba lô màu đỏ - đen của anh Nguyễn Hòa B. Quan sát thấy không có ai trông coi nên A nhanh chóng lấy trộm chiếc ba lô và lên xe mô-tô của A định tẩu thoát thì bị lực lượng Công an phường V.L tuần tra bắt quả tang cùng tang vật (01 (một) ba lô màu đỏ - đen, bên trong có 01 (một) túi da màu đen dùng để đựng kính có ghi chữ “Hiệu kính Huỳnh Kim H”; tiền Việt Nam 2.500.000 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại Inox, màu vàng; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại Inox, màu trắng có đan xen hạt màu đen làm từ cây dương. Tại trụ sở Công an phường V.L, A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra xác định trước đó Mã Ngọc A còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:
Vào khoảng 14 giờ, ngày 20/11/2019, A điều khiển xe mô-tô nhãn hiệu Attila màu đỏ, biển kiểm soát số: 68T5-8064 đi đến trước cửa hàng mua bán điện thoại địa chỉ số 382, đường N.T.T, phường V.L, thành phố RG và quan sát thấy 01 (một) túi xách màu đen của anh Nguyễn Hoàng E đang để trên xe mô-tô màu trắng-xanh (không rõ biển số) đậu trước cửa hàng nên A đã lén lút lấy trộm. Sau đó, A kiểm tra bên trong túi xách có 01 sợ dây chuyền bằng vàng 24k, trọng lượng 02 (hai) chỉ; 01 (một) máy ảnh nhãn hiệu Nikon, loại COOLPIX S2800, màu trắng-đen, A đem sợi dây chuyền bằng vàng 24k, trọng lượng 02 (hai) chỉ đến cầm tại tiệm cầm đồ Ph (địa chỉ số 463, đường M.C, phường V.T, thành phố RG) do anh Phạm Thanh H làm chủ với số tiền 6.500.000 đồng. Đến ngày 25/11/2019, A thỏa thuận với anh H sẽ đem bán sợi dây chuyền trên rồi đem tiền trả lại cho anh H thì anh H đồng ý và đưa sợi dây chuyền cho ông Nguyễn Văn G (sinh năm 1952, cư trú tại địa chỉ số 246/28, đường M.C, phường V.T, thành phố RG, làm nghề chạy xe ôm) cùng đi với A bán sợi dây chuyền trên tại tiệm vàng K.Đ (địa chỉ số 08-10-12, đường Phan Chu Trinh, phường V.T.V, thành phố RG) với số tiền 8.020.000 đồng. Khi bán xong, A lấy 6.520.000 đồng đưa cho ông G đem về trả cho anh H, còn lại 1.500.000 đồng A tiêu xài cá nhân hết. Cùng ngày 25/11/2019, A lấy chiếc máy ảnh nhãn hiệu Nikon, loại COOLPIX S2800, màu trắng-đen bán cho anh Nguyễn Văn U (sinh năm 1980, cư trú tại địa chỉ số 957C, đường N.Q, phường A.H, thành phố RG) với số tiền 150.000 đồng rồi tiêu xái cá nhân hết, còn chiếc túi xách màu đen A đã ném bỏ ở đâu không rõ. Sau đó, anh Nguyễn Văn U đã giao nộp chiếc máy ảnh trên cho Cơ quan điều tra. Đối với sợi dây chuyển bằng vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ, A đã bán cho tiệm vàng K.Đ hiện nay không xác định và thu hồi được.
Cũng bằng thủ đoạn tương tự, vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 26/11/2019, A điều khiển xe mô-tô nhãn hiệu Attila màu đỏ, biển kiểm soát số: 68T5-8064 đi đến trước cửa hàng Điện Máy Xanh (địa chỉ số 358 – 360, đường N.T.T, phường V.L, thành phố RG) và quan sát thấy trên xe mô-tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, biển kiểm soát số: 68D1–52549 có 01 (một) chiếc ba lô màu xanh của anh Nguyễn Anh T (sinh năm 1995, cư trú tại địa chỉ số 169/1A, đường N.T.T, phường V.T, thành phố RG) nên A đã lén lút lấy trộm chiếc ba lô và nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó, A kiểm tra bên trong ba lô có 01 (một) máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Acer, Core i3, kích thước 14 inch, Model: MS 2332, số S/N: LXRFKOCO 25116080 332000 và 01 (một) cục sạc máy tính xách tay, A đem chiếc máy tính xách tay và cục sạc máy tính vừa trộm được đến tiệm cầm đồ số 24 (tại đường N.T.T, khu phố 2, phường V.B, thành phố RG) cầm cho anh Nguyễn Bá Tr với số tiền 1.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, anh Tr tự giao nộp lại tài sản trên cho Cơ quan điều tra (bút lục số: 01-02; 69-71; 73, 74, 91, 95, 97, 99, 101, 103, 105, 107).
Đến ngày 03/12/2019, Mã Ngọc A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố RG khởi tố, tạm giam để điều tra.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Mã Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến thống nhất với nội dung sự việc như đã nêu trên.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:
- Tiền Việt Nam: 2.500.000 đồng (hai triệu, năm trăm nghìn đồng);
- 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại Inox, màu vàng có in chữ;
- 01 (một) sợ dây chuyền bằng kim loại Inox, màu trắng có đan xen hạt màu đen làm từ cây dương;
- 01 (một) xe mô-tô nhãn hiệu Attila màu đỏ, biển kiểm soát số: 68T5-8064;
- 01 (một) túi da màu đen dùng đựng kính có ghi chữ “ Hiệu kính Huỳnh Kim Hoàng”;
- 01 (một) máy ảnh nhãn hiệu Nikon, loại COOLPIX S2800, màu trắng – đen;
- 01 (một) máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Acer, Core i3, kích thước 14 inch, Model: MS 2332, số S/N: LXRFKOCO 25116080 332000; 01 (một) cục sạc máy tính xách tay.
Đối với sợ dây chuyền bằng vàng 24k, trọng lượng 02 (hai) chỉ, A đã bán tại tiệm vàng Kim Định hiện nay không xác định và thu hồi được.
Đối với chiếc túi xách An lấy trộm của anh Nguyễn Hoàng E, A đã ném bỏ ở đâu không rõ nên không thu hồi được (bút lục số 02, 03, 09, 10).
Xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố RG đã trả lại cho các chủ sở hữu tài sản bị mất trộm và tài sản không liên quan đến việc phạm tội, bao gồm:
- Trả lại cho anh Nguyễn Anh T: 01 (một) máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Acer, Core i3, kích thước 14 inch, Model: MS 2332, số S/N: LXRFKOCO 25116080 332000 và 01 (một) cục sạc máy tính xách tay;
- Trả lại cho anh Nguyễn Hòa B: Tiền Việt Nam 2.500.000 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại Inox, màu vàng có in chữ; 01 (một) sợ dây chuyền bằng kim loại Inox, màu trắng có đan xen hạt màu đen làm từ cây dương; 01 (một) ba lô màu đỏ - đen; 01 (một) túi da màu đen dùng đựng kính có ghi chữ “Hiệu kính Huỳnh Kim H”;
- Trả lại cho anh Nguyễn Hoàng E: 01 (một) máy ảnh nhãn hiệu Nikon, loại COOLPIX S2800, màu trắng – đen;
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Th: 01 (một) xe mô-tô nhãn hiệu Attila màu đỏ, biển kiểm soát số: 68T5-8064, do A mượn của bà Th làm phương tiện di chuyển hàng ngày, bà Th không biết việc A dùng chiếc xe trên để làm phương tiện phạm tội.
(Bút lục số 42-46).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 187/KL-HĐĐG ngày 03/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố RG kết luận tại thời điểm ngày 27/11/2019 như sau:
1. Tài sản xác định được giá trị:
- 01 (một) ba lô màu đỏ - đen, đã qua sử dụng, có giá trị còn lại là: 20.000 đồng.
2. Tài sản không xác định được giá trị:
- 01 (một) túi da màu đen dùng để đựng kính, đã qua sử dụng;
- 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại Inox, màu vàng, đã qua sử dụng;
- 01 (một) sợ dây chuyền bằng kim loại Inox, màu trắng có đính hạt màu đen làm từ cây dương, đã qua sử dụng;
Do những tài sản nêu trên không có hóa đơn, chứng từ, không xác định được chủng loại, xuất xứ cụ thể, tài sản bị bung tróc da, nên không có cơ sở để định giá (bút lục số 32, 33).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 188/KL-HĐĐG ngày 04/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố RG kết luận tại thời điểm ngày 26/11/2019 như sau: 01 (một) máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Acer, Core i3, kích thước 14 inch, Model: MS 2332, số S/N: LXRFKOCO 25116080 332000 và 01 (một) cục sạc máy tính xách tay, đã qua sử dụng, có giá trị còn lại là 2.500.000 đồng (bút lục số 39).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 189/KL-HĐĐG ngày 04/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố RG kết luận tại thời điểm ngày 20/11/2019 như sau: 01 (một) máy ảnh nhãn hiệu Nikon, loại COOLPIX S2800, màu trắng-đen, đã qua sử dụng, có giá trị còn lại là 1.200.000 đồng (bút lục số 36).
Đối với sợi dây chuyền bằng vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ, bị can Mã Ngọc A đã bán tại tiệm vàng K.Đ hiện nay không xác định và thu hồi được nên không thể tiến hành định giá. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố RG căn cứ vào giá trị sợi dây chuyền bằng vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ mà bị can Mã Ngọc A đã bán cho tiệm vàng K.Đ tại thời điểm ngày 25/11/2019 là 8.020.000 đồng đề làm cơ sở giải quyết vụ án (bút lục số 103, 103A).
Về trách nhiệm dân sự:
- Các bị hại - Nguyễn Hòa B, Nguyễn Anh T đã nhận lại tài sản bị mất trộm, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Bị hại - Nguyễn Hoàng E yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng hiện nay chưa bồi thường.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Nguyễn Bá Tr yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng đã bỏ ra mua chiếc máy tính xách tay và cục sạc máy tính do bị cáo đem đến bán, bị cáo đồng ý nhưng hiện nay chưa bồi thường. Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa, anh Nguyễn Bá Tr có đơn xin vắng mặt và thể hiện ý chí tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Nguyễn Văn U yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 150.000 đồng đã bỏ ra mua chiếc máy ảnh do bị cáo đem đến bán, bị cáo đồng ý nhưng hiện nay chưa bồi thường. Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa, anh Nguyễn Bá Tr có đơn xin vắng mặt và thể hiện ý chí tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS, ngày 10 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Mã Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Mã Ngọc A mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Mã Ngọc A phải giao nộp số tiền do phạm tội mà có là 2.650.000 đồng (hai triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng E số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Riêng anh Nguyễn Hòa B, anh Nguyễn Anh T, anh Nguyễn Bá Tr và anh Nguyễn Văn U đều thể hiện ý chí tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố RG, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và những chứng cứ xác định có tội:
Mã Ngọc A là người có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, Từ ngày 20/11/2019 đến ngày 27/11/2019, Mã Ngọc A đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố RG để bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 20/11/2019, A lén lút lấy trộm của anh Nguyễn Hoàng E 01 (một) túi xách màu đen, 01 (một) sợ dây chuyển bằng vàng 24k, trọng lượng 02 (hai) chỉ và 01 (một) máy ảnh nhãn hiệu Nikon, loại COOLPIX S2800, màu trắng-đen đem cầm, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân (giá trị còn lại qua định giá là 9.200.000 đồng).
Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 26/11/2019, An tiếp tục lấy trộm 01 (một) chiếc ba lô màu xanh, 01 (một) máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Acer, Core i3, kích thước 14 inch, Model: MS 2332, số S/N: LXRFKOCO 25116080 332000 và 01 (một) cục sạc máy tính xách tay của anh Nguyễn Anh T đem cầm cho anh Nguyễn Bá Tr với số tiền 1.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết (giá trị còn lại qua định giá là 2.500.000 đồng).
Tiếp đến, vào khoảng 10 giờ, ngày 27/11/2019, A lén lút lấy trộm của anh Nguyễn Hòa B 01 ba lô màu đỏ-đen (giá trị còn lại qua định giá là 20.000 đồng); 01 (một) túi da màu đen dùng đựng kính có ghi chữ “Hiệu kính Huỳnh Kim H”; 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại Inox, màu vàng; 01 (một) sợ dây chuyền bằng kim loại Inox, màu trắng có xen hạt màu đen làm từ cây dương (không xác định được giá trị) và tiền Việt Nam 2.500.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 14.220.000 đồng. Đến ngày 03/12/2019, Mã Ngọc A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố RG khởi tố, tạm giam để điều tra.
Đối với Phạm Thanh H, Nguyễn Văn U, Nguyễn Bá Tr: khi nhận cầm cố, mua các tài sản là vàng, máy tính xách tay và máy ảnh thì đều không biết đây là những tài sản do bị cáo trộm cắp của người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố RG không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Nguyễn Văn G: là người chở bị cáo đi bán vàng tại tiệm vàng K.Đ, cũng không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp của người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố RG không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Mã Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên đáng lẽ thông qua sự cảm hóa, giáo dục của các cơ quan tư pháp cũng như hỗ trợ tư pháp, bị cáo phải biết và nhận thức được rằng quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên, sau khi chấp hành án xong và về sinh sống tại địa phương, bị cáo không lo làm ăn chân chính mà lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn thành phố RG, cụ thể trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị là 14.220.000 đồng (mười bốn triệu, hai trăm hai mươi nghìn đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, lợi dụng sự mất cảnh giác của người khác để xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản một cách trái pháp luật. Vì vậy đứng trước phiên tòa hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình đã gây ra, do đó cần phải xử lý bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm tuyên truyền, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG cũng như yêu cầu của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Mã Ngọc A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Mã Ngọc A mức án 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (27/11/2019).
- Về xử lý vật chứng: Đã trao trả cho chủ sở hữu nên không xem xét.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Mã Ngọc A phải giao nộp số tiền do phạm tội mà có là 2.650.000 đồng (hai triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Mã Ngọc A bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng E số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Riêng anh Nguyễn Hòa B, anh Nguyễn Anh T, anh Nguyễn Bá Tr và anh Nguyễn Văn U đều thể hiện ý chí tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nên không xem xét.
- Về án phí:
Án phí hình sự: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, buộc bị cáo Mã Ngọc A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH124, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mã Ngọc A phải chịu 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND TP. RG; - Công an TP. RG; - Chi cục THADS TP. RG; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Đức Luân |