vanban.org

Bản án 75/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 28/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc ông Lâm Văn H là người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâ…

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc ông Lâm Văn H là người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâ…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2020/HS-PT
Ngày 28 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Đức Dương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thuyên và ông Nguyễn Xuân Chiến

- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Thúy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28-8-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2020/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo Lâm Văn T do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Lâm Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2020/HS-ST ngày 09-6-2020 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2020/QĐXXPT-HS ngày 13-8-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

Bị cáo có người đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo: Lâm Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn H và con bà Trương Thị L; tiền sự: Ngày 15-11-2019, bị Công an thành phố G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 02174/QĐ-XPHC bằng hình phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-11-2019 - Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lâm Văn H; địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Đạt, Luật sư của Văn phòng luật sư Hoài An, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Nông; địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường Nghĩa Tân, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 17-11-2019, Lâm Văn T đi bộ từ hướng chợ G đến đường H thuộc tổ dân phố Q, phường N, thành phố G thì phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 49A-079.85, hiệu Toyota, loại Vios, màu sơn xanh (có gắn logo của hãng taxi M của anh Lưu Thanh T đang đậu phía bên đường. Lúc này, Lâm Văn T mở cửa xe ô tô nổ máy và điều khiển đi ra đường Quốc lộ 14 hướng đến Thành phố Hồ Chí Minh để tìm nơi tiêu thụ.

Khoảng 14 giờ cùng ngày anh Lưu Thanh T phát hiện xe ô tô trên của mình bị kẻ gian trộm cắp nên đã trình báo sự việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa. Ngay sau đó, Cơ quan điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đã phối hợp với Công an thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước bắt giữ khi Lâm Văn T đang điều khiển xe ô tô đến địa bàn xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Kết luận định giá tài sản số: 70/BB-HĐĐG ngày 20-11-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố G kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Toyota loại Viso màu xanh, biển kiểm soát 49A-079.85, số máy: 1NZY939826, số khung: RL4BT9230D9525624, xe đăng ký lần đầu ngày 31-12-2013, trị giá 238.500.000 đồng.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 28/KLGĐ ngày 19-3-2020 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực T thuộc Bộ Y tế kết luận: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại (tại thời điểm giám định) Lâm Văn T hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Bản án số: 31/2020/HS-ST ngày 09-6-2020 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, quyết định: Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; các điểm b, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lâm Văn T 05 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 11 tháng 6 năm 2020, người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâm Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp thừa nhận Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xử phạt bị cáo Lâm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâm Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Lâm Văn T, song mức hình phạt còn có phần nghiêm so với hành vi và nhân thân của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sớm hòa nhập với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Bản án số: 31/2020/HS-ST ngày 09-6-2020 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã kết án bị cáo Lâm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâm Văn T, Hội đồng xét xử thấy: Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cũng như nhân thân của bị cáo và xử phạt 05 năm 06 tháng tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự) là thỏa đáng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị cáo cũng như nội dung xin hưởng án treo của bị cáo tại phiên tòa.

. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lâm Văn H là người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâm Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn H là người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâm Văn T, giữ nguyên Bản án số: 31/2020/HS-ST ngày 09-6-2020 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; các điểm b, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lâm Văn T 05 (Năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 18-11-2019.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc ông Lâm Văn H là người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâm Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ