vanban.org

Bản án 75/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Thị Bích E được ly hôn với anh Nguyễn Văn Phi T. Giấy chứng nhận kết hôn số 99, ngày 14 tháng 4 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho chị Trương Thị Bích E và anh Nguyễn Văn Phi T không còn giá trị pháp lý. Về quan hệ con chung: … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 75/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/2020.
V/v tranh chấp ly hôn, về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tấn Khoa;

2. Ông Tôn Phước Thuận;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 868/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn, về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2020/QĐXX-ST ngày 19 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Bích E, sinh năm 1989; địa chỉ: 118 ấp MT, xã MHĐ, huyện CM, tỉnh An Giang (Có mặt).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn P – luật sư thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Văn Phúc, Đoàn Luật sư tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn Phi T, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp KB2, xã KA, huyện CM, tỉnh An Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn chị chị Trương Thị Bích E trình bày: Chị và anh T chung sống với nhau vào năm 2006, hôn nhân do mai mối, tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau trong kinh tế gia đình dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nhiều, đến tháng 12/2018 thì vợ chồng không còn chung sống đến nay. Từ khi không còn chung sống, hai bên không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay, nhận thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Phi T. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim C sinh ngày 5/8/2007 và Nguyễn Thị Kim Q sinh ngày 25/02/2016 hiện do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị đồng ý để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị không cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản chung: Không có. Về quan hệ nợ chung: Không có. Tại phiên tòa, chị Bích E giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày hôn nhân giữ chị Bích E và anh T là hợp pháp vì anh chị có đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tánh tình không phù hợp, anh T không phụ tiếp gia đình, nên vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 cho đến nay không ai quan tâm nhau nay chị Bích E xác định tình cảm không còn nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bích E. Về con chung chị Bích E đồng ý để anh T được tiếp tục nuôi 02 con chung. Về tài sản chung, nợ chung không có. Bị đơn anh Nguyễn Văn Phi T trình bày anh và chị Bích E chung sống với nhau vào năm 2006 có đăng ký kết hôn, trong cuộc sống chung vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, vợ chồng có cải nhau thì chị Bích E bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và đi làm công nhân tại huyện Châu Thành sau đó thì đi làm công nhân tại thành phố anh có đến tìm nhưng không gặp. Nay anh vẫn còn thương vợ không đồng ý ly hôn. Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim C sinh ngày 5/8/2007 và Nguyễn Thị Kim Q sinh ngày 25/02/2016 hiện do anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu Tòa án cho ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Về hôn nhân: Chị Bích E và anh T kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không chia sẽ được với nhau và ly thân từ năm 2018. Nay, nhận thấy tình cảm không còn, chị Bích E yêu cầu ly hôn với anh T, anh T lại không thể hiện thiện chí để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng, vì vậy mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị Bích E yêu cầu xin ly hôn với anh T là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim C sinh ngày 5/8/2007 và Nguyễn Thị Kim Q sinh ngày 25/02/2016 hiện do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại phiên tòa chị Bích E và anh T thống nhất nếu ly hôn anh T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xem xét: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bích E đối với anh T. Về con chung anh T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim C sinh ngày 5/8/2007 và Nguyễn Thị Kim Q sinh ngày 25/02/2016, chị Bích E không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Trương Thị Bích E yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Phi T có nơi cư trú xã KA, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bích E và anh T chung sống với nhau vào năm 2006 có làm đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo chị Bích E trình bày, trong quá trình chung sống vợ chồng thường hay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, anh T không lo phụ tiếp kinh tế gia đình đến tháng 12/2018, thì mâu thuẫn trầm tr ng và không còn chung sống đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh T. Phía anh T không đồng ý ly hôn, anh thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không lớn nhưng vợ lại bỏ đi anh có tìm nhưng không gặp nên không thể hàn gắn được. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Bích E và anh T đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên thường cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày mâu thuẫn nhiều hơn và không còn chung sống từ tháng 12/2018 đến nay. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bích E là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về quan hệ con chung: chị Bích E và anh T xác định vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim C sinh ngày 5/8/2007 và Nguyễn Thị Kim Q sinh ngày 25/02/2016 hiện do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị Bích E anh đồng ý để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu Kim C và cháu Kim Q do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết anh T cũng yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, nguyên v ng cháu Kim C cũng mong muốn được tiếp tục chung sống với anh T. Do đó, để anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kim C và cháu Kim Q là phù hợp với pháp luật. [5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh T không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. [6] Về quan hệ tài sản chung: chị Bích E và anh T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. [7] Về quan hệ nợ chung: chị Bích E và anh T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. [8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Bích E sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Bích E.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Thị Bích E được ly hôn với anh Nguyễn Văn Phi T. Giấy chứng nhận kết hôn số 99, ngày 14 tháng 4 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho chị Trương Thị Bích E và anh Nguyễn Văn Phi T không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: anh Nguyễn Văn Phi T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim C sinh ngày 5/8/2007 và Nguyễn Thị Kim Q sinh ngày 25/02/2016 hiện do anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Trương Thị Bích E không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Văn Phi T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Trương Thị Bích E trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc chị Bích E và anh T xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì chị Bích E và anh T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, chị Trương Thị Bích E phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0007620 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 10/12/2019. Anh Phong đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ