vanban.org

Bản án 75/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị X yêu cầu ông Nguyễn Văn N bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 20.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà X yêu cầu ông N bồi thường 04 cây mai số tiền 8.000.000 đồng. Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "XINH NHẠT"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị X yêu cầu ông Nguyễn Văn N bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 20.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2020/DS-ST
Ngày: 07/7/2020
V/v tranh chấp: “yêu cầu bồi thường
thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tám

2. Ông Huỳnh Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Liên Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số 471/2019/TLST–DS ngày 18/12/2019 về việc tranh chấp “yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2020/QĐXXST-DS ngày 18/6/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị X, sinh năm: 1961.

Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1973.

Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Bà X, ông N có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị X trình bày:

Bà và ông N là chỗ lối xóm. Vào ngày 29/9/2016, khi bà đang ngồi nấu rượu ở mé chái cạnh nhà bà thì ông N mang máy phun thuốc diệt cỏ ra xịt cách chỗ bà ngồi khoảng 4m. Ông N xịt bằng máy, thuốc cỏ bay qua người và đầu của bà. Sau đó bà thấy mệt nên người nhà chở bà đi nhập viện điều trị ở Bệnh viện đa khoa Cai Lậy 03 ngày, từ ngày 03/10/2016 đến ngày 06/10/2016 thì xuất viện. Đến ngày 10/10/2016, bà thấy trong người mệt trở lại nên bà đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện quận Thủ Đức – thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà yêu cầu ông N bồi thường cho bà tiền điều trị và các chi phí tổng cộng là 20.086.634 đồng,

Ngoài ra, theo đơn khởi kiện bà X có yêu cầu ông N bồi thường 04 cây mai vàng số tiền là 8.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà X đã rút phần yêu cầu này, không yêu cầu Tòa án giải quyết phần yêu cầu bồi thường 04 cây Mai.

- Tại Tờ tự khai đề ngày 05/02/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ông thừa nhận có xịt thuốc cỏ loại 2,4D, xịt bằng bình máy nhưng thời điểm ông xịt thuốc cỏ thì không thấy bà X, cũng không nghe bà X nói gì. Ông xịt thuốc diệt cỏ trên phần đất đường đi tranh chấp trước đây, cách nhà bà X khoảng 10m. Việc bà X có nhiễm độc thuốc diệt cỏ hay không thì ông không biết, nhưng ông không có xịt thuốc làm bà X nhiễm độc nên ông không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà X.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà X khai do cộng nhầm, nên bà xác định số tiền yêu cầu bồi thường tổng cộng là 20.251.364 đồng và bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như trên.

Đại diện Viện kiểm sát tham dự phiên tòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bị đơn bồi thường 04 cây mai trị giá 8.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe: Theo tài liệu có trong hồ sơ, trước đây bà X có tố giác ông N đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè về hành vi phun thuốc diệt cỏ làm tổn hại sức khỏe của bà. Cơ quan Công an có trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương sức khỏe của bà X nhưng bà X không đi giám định và bà X cũng không cung cấp giấy y chứng nên không có cơ sở chứng minh ông N phun thuốc diệt cỏ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bà X. Hồ sơ bệnh án khi điều trị của bà X cũng không có kết luận nào thể hiện bà X bị nhiễm độc thuốc diệt cỏ. Riêng bệnh rối loạn tiền đình và viêm dạ dày là bệnh lý của bà X, không phải do nhiễm độc thuốc diệt cỏ gây ra nên yêu cầu của bà X là không phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 590 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà X kiện ông N tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại khoản 6 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ tranh chấp: Bà X kiện ông N yêu cầu bồi thường về tiền chi phí điều trị do sức khỏe bị xâm phạm, nên xác định đây là tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật dân sự.

. Về nội dung vụ án:

- Bà X và ông N là chỗ lối xóm. Vào ngày 29/9/2016, khi bà X đang ngồi nấu rượu ở mé chái cạnh nhà bà thì ông N mang máy phun thuốc diệt cỏ loại 2,4D ra xịt cách chỗ bà ngồi khoảng 4m, thuốc cỏ bay qua người và đầu của bà X. Sau đó bà X thấy mệt nên người nhà chở bà đi nhập viện điều trị ở Bệnh viện đa khoa Cai Lậy 03 từ ngày 03/10/2016 đến ngày 06/10/2016 thì xuất viện. Đến ngày 10/10/2016, bà thấy trong người mệt trở lại nên bà đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện quận Thủ Đức – thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà X yêu cầu ông N bồi thường cho bà tiền điều trị và các chi phí phát sinh tổng cộng là 20.251.364 đồng, cụ thể:

+ Tiền thuốc theo toa: 1.951.164 đồng;

+ Tiền ăn nằm viện 03 ngày x 100.000 đồng/ngày x 03 ngày: 300.000 đồng;

+ Tiền công lao động bị mất 03 ngày nằm viện x 200.000 đồng/ngày: 600.000 đồng;

+ Tiền ăn người nuôi bệnh 100.000 đồng/ngày x 03 ngày x 02 người: 600.000 đồng;

+ Tiền công lao động bị mất 03 ngày nằm viện của người nuôi bệnh x 200.000 đồng/ngày x 02 người: 1.200.000 đồng;

+ Tiền công lao động bị mất do nghỉ dưỡng bệnh sau khi xuất viện 20 ngày x 200.000 đồng/ngày: 4.000.000 đồng;

+ Tiền công lao động người nuôi thời gian bà dưỡng bệnh 10 ngày x 200.000 đồng/ngày: 2.000.000 đồng;

+ Tiền xe đi và về khi nằm viện ở Bệnh viện Cai Lậy 03 người x 200.000 đồng/người: 600.000 đồng;

+ Tiền xe lên Bệnh viện quận Thủ Đức đi và về 02 chuyến x 600.000 đồng/chuyến: 1.200.000 đồng.

+ Tiền tổn thất tinh thần 06 tháng x 1.300.000 đồng/tháng: 7.800.000 đồng.

- Xét thấy, sau khi sự việc xảy ra bà X có đơn gởi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè yêu cầu xử lý ông N. Cơ quan Điều tra có mời các bên lên làm việc và ghi lời khai, đồng thời Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè có yêu cầu bà X giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe, nhưng bà xin hoãn và không đi giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyên Cái Bè không có cơ sở xử lý.

- Ngoài ra theo giấy ra viện đề ngày 06/10/2016 bà X cung cấp có ghi chẩn đoán: Nhiễm độc thuốc diệt cỏ - Rối loạn tiền đình - Viêm dạ dày, nhưng đây chỉ là chẩn đoán không phải kết luận của cơ quan chuyên môn.

- Mặt khác, các toa thuốc điều trị bà cung cấp yêu cầu bồi thường đều ghi chẩn đoán là Tăng huyết áp và rối loạn nhịp tim. Hơn nữa, có toa thuốc ghi tên bệnh nhân tên Nguyễn Minh Z – 05 tuổi chẩn đoán là Viêm mũi họng

Ngoài ra, bà X cũng không có chứng cứ gì chứng minh ông N xịt thuốc diệt cỏ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bà. Do vậy, xét yêu cầu khởi kiện của bà X yêu cầu ông N bồi thường thiệt hại về sức khỏe gồm tiền thuốc, tiền công lao động, tiền xe, tiền ăn…tổng số tiền là 20.251.364 đồng là không có căn cứ, nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bà X.

- Đối với yêu cầu bồi thường 04 cây Mai số tiền là 8.000.000 đồng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà X rút phần yêu cầu này là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử Đình chỉ phần yêu cầu bồi thường 04 cây mai của bà X.

. Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà X.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

* Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị X yêu cầu ông Nguyễn Văn N bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 20.251.364 đồng.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà X yêu cầu ông N bồi thường 04 cây mai số tiền 8.000.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Miễn tiền án phí sơ thẩm cho bà X. Hoàn lại cho bà X số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu số 0002867 ngày 18/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ