vanban.org

Bản án 75/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn T. Ông Lưu Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số 75/2019/HNGĐ-ST về tranh chấp ly hôn Lưu Văn T và Nguyễn Thị Ngọc P."
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2019
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hùng Bích

2. Bà Đoàn Kim Thạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu - Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 2 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lưu Văn T, sinh năm 1988.

Cư trú: Ấp G, xã LA, huyện T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1991.

Cư trú: đường B, khóm TK, phường MH, thành phố X, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa có mặt ông T; bà P vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 02/10/2018 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Lưu Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Ông T và bà P tự nguyện tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân tổ chức lễ cưới vào năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường MH, thành phố X, tỉnh An Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 118/2015, quyển số 01/2015, hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, thường xảy ra mâu thuẫn, bà P hay bỏ nhà đi vì vậy ông bà đã ly thân với nhau từ ngày 20/7/2018 cho đến nay. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không đạt được nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà P.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P trình bày trong quá trình tố tụng, bà P vắng mặt tại phiên tòa:

Về quan hệ hôn nhân bà thống nhất ly hôn, về con chung không có.

Về nợ chung: Trong thời gian sống chung, bà có mượn của bà Nguyễn Thị Thùy T số tiền nợ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng); bà Nguyễn Thị Ngọc B số tiền nợ 32.000.000đ (ba mươi hai triệu đồng).

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tố tụng:

Ông T tranh chấp về ly hôn với bà P, tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình tố tụng bà P trình bày có nợ bà T và bà B, Tòa án đã ban hành thông báo số 01/TB-HNGĐ ngày 16/5/2019 yêu cầu bà xác định họ tên, địa chỉ của bà T và bà B để Tòa đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhằm làm rõ phần nợ mà bà P trình bày nhưng bà không thực hiện, đồng thời bà P cũng không có yêu cầu khởi kiện độc lập nên Tòa án không có căn cứ xem xét trong vụ án này. Trường hợp các bên có tranh chấp có quyền khởi kiện thành vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

2

Bà P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà P.

Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa ông T và bà P xuất phát từ sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường MH và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình.

Ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn với căn cứ vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, mỗi người có cuộc sống riêng bên ngoài, vợ chồng đã không còn sống chung một thời gian dài. Quá trình giải quyết vụ án bà P cũng thống nhất ly hôn, điều này đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình, không còn yêu thương quan tâm, chăm sóc nhau. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ, phù hợp với điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông T có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 19; Điều 51; Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn T. Ông Lưu Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc P.

3

[2] Về quan hệ con chung: Không có.

[3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu số 0002706 ngày 25/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố X.

Bà P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Ông T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)

Cỡ chữ