- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa nguyên đơn A và bị đơn M"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Thúy A
- Căn cứ chính? Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06 – 11 - 2019 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng.
2. Bà Đặng Hồng Luyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Nam – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2019 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thúy A
Địa chỉ: ấp 3B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang
2. Bị đơn: Ông Hong Seung M, sinh năm: 1975.
Địa chỉ: 28-12 Sanseong-daero 125 beon-gil Sujeong-gu Seongnam-si Gyeonggi-do, Korea (Hàn Quốc).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Thúy A trình bày: Do mai mối, chị và ông Hong Seung M tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang vào ngày 05/9/2017. Sau khi kết hôn thì chị và chồng sống tại Việt Nam. Thời gian đầu thì vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc, nhưng một thời gian ngắn thì tình cảm vợ chồng có biểu hiện nhạt phai do tính tình, lối sống, sở thích không hợp nhau. Đến cuối tháng 9/2017 thì ông Hong Seung M trở về Hàn Quốc, còn chị thì ở lại Việt Nam. Tháng đầu, chị và chồng có liên lạc được một hai lần nhưng sau đó thì không liên lạc nữa cho đến nay. Do hôn nhân giữa chị và ông Hong Seung M chỉ tồn tại trên mặt giấy tờ, nhưng không có tình yêu thực sự do không biết rõ về nhau, không có sự cảm thông và chia sẽ. Nay chị yêu cầu được ly hôn với ông Hong Seung M. Về con chung, tài sản chung, nợ chung chị Thúy A khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trính giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Tòa án tối cao Hàn Quốc để tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Hong Seung M, nhưng không tống đạt được do địa chỉ không đúng. Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang cũng đã thực hiện việc thông báo cho ông Hong Seung M biết thông qua cổng thông tin điện tử của Tòa án, Đài phát thanh và truyền hình Việt Nam kênh dành cho người nước ngoài và cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Hàn Quốc nhưng ông Hong Seung M không đến Tòa án và cũng không gửi tài liệu, chứng cứ, văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Thúy A cho Tòa án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Thúy A; về con chung, tài sản chung và nợ chung, do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn chị Võ Thị Thúy A, có địa chỉ cư trú tại ấp 3B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang khởi kiện xin ly hôn với ông Hong Seung M là người có quốc tịch Hàn Quốc, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Tòa án tối cao Hàn Quốc để tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Hong Seung M, nhưng Tòa án tối cao Hàn Quốc có văn bản trả lời là không tống đạt được do địa chỉ không đúng. Chị Thúy A không cung cấp được địa chỉ chính xác của ông Hong Seung M. Theo yêu cầu của chị Thúy A, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt cho ông Hong Seung M thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Đài Phát thanh và Truyền hình Việt Nam kênh dành cho người nước ngoài và cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Hàn Quốc nhưng ông Hong Seung M vẫn vắng mặt không có lý do. Chị Thúy A có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Hong Seung M và chị Võ Thị Thúy A.
Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thúy A và ông Hong Seung M chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang, nên quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Thúy A và ông Hong Seung M là hợp pháp và được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Thúy A cho rằng giữa chị và ông Hong Seung M chỉ tồn tại quan hệ hôn nhân trên giấy tờ, nhưng thực tế không tồn tại tình yêu, do ông Hong Seung M ít tiếp xúc, giao tiếp với người Việt Nam, nên không hiểu tập quán sống, tính cách, lối sống của phụ nữ Việt Nam nên dẫn đến hai người không hiểu rõ về nhau, không có sự cảm thông, chia sẽ. Thời gian chị Thúy A và ông Hong Seung M chung sống với nhau cũng chưa được một tháng, từ khi ông Hong Seung M về Hàn Quốc thì chị Thúy A và ông Hong Seung M cũng không còn liên lạc. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các phương thức tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Hong Seung M, nhưng ông Hong Seung M không đến Tòa án và cũng không gửi tài liệu, chứng cứ, văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị Thúy A cho Tòa án. Xét thấy, chị Thúy A và ông Hong Seung M tiến đến hôn nhân nhưng thực chất không xuất phát từ tình cảm, thời gian tìm hiểu và chung sống ngắn ngủi, trên thực tế giữa chị Thúy A và ông Hong Seung M không duy trì lâu dài cuộc sống hôn nhân sau khi kết hôn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Hong Seung M cũng không có bất cứ ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu ly hôn của chị Thúy A. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thúy A.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị Thúy A khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Võ Thị Thúy A phải chịu án phí theo quy định.
Về lệ phí ủy thác tư pháp: Căn cứ khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì chị Võ Thị Thúy A phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 37, Điều 147, Điều 153, Điều 227, Điều 470, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Thúy A
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thúy A được ly hôn với ông Hong Seung M.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Thúy A khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Thúy A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí chị Võ Thị Thúy A đã nộp theo biên lai thu số 0020045 ngày 14 tháng 01 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí (chị Thúy A đã nộp xong).
4. Lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Võ Thị Thúy A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Chị Võ Thị Thúy A đã nộp xong theo biên lai thu số 0009026 ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang
5. Chi phí đăng thông báo trên Đài phát thanh và truyền hình: Chị Thúy A phải chịu 2.000.000đ (hai triệu đồng). Chị Thúy A đã nộp xong.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Cục THADS tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thanh |