vanban.org

Bản án 75/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 26/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 12/8/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2018/HS-ST
Ngày 26-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyền và bà Lò Thị Le.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Yên Châu , tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 80/2018/TLST-HS ngày 15/11/2018; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/QĐXXST- HS ngày 15/11/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh năm 1979 tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản Cung Giao Thông T, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Tiến N (Đã chết) và bà Lê Thị M, sinh năm 1949, vợ: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Bản án số: 49//2008/HSST ngày 07/5/2008 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt Nguyễn Minh T 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2018 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ, ngày 12 tháng 8 năm 2018, Nguyễn Minh T, sinh năm 1979, trú tại bản Cung Giao Thông T, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La một mình từ nhà mang theo số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) điều khiển xe máy Wave, màu sơn đỏ, BKS 59V1-055.68 đến bản Lao K1, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La, sau đó Nguyễn Minh T vượt biên giới Việt Nam – Lào sang bản Keo L (Lào) mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại bản Keo L (Lào) Nguyễn Minh T gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi (Không biết tên, địa chỉ). Qua trao đổi người đàn ông dân tộc Mông nói 01 viên Methamphetamine có giá là 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng), T mua 60 viên Methamphetamine với giá 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng). T nhận lấy số Methamphetamine rồi xin thêm của người đàn ông dân tộc Mông đó một ít Heroine để sử dụng. Người đàn ông đó cho T một ít Heroine, T nhận lấy Heroine và đi vào bụi cây ven đường bỏ ra thêm 02 viên Methamphetamine sử dụng bằng hình thức đốt hít. Sử dụng ma túy xong T lấy một mảnh nilon màu đen gói 58 viên Methamphetamine còn lại rồi kẹp ở giữa đùi trái và yên xe máy. Sau đó T điều khiển xe máy theo đường cũ, khi T đến địa phận bản Y, xã L, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y ra hiệu dừng xe kiểm tra. Do sợ hãi nên T tăng ga bỏ chạy và làm rơi gói Methamphetamine xuống đường. Tổ công tác Công an huyện Y đã truy đuổi khoảng 100 m thì Tiến dừng lại. Tổ công tác Công an huyện Y lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Minh T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ số vật chứng như sau:

- 58 viên nén màu hồng, không rõ hình dạng, kích thước nghi là Hồng phiến thu giữ tại khu vực lề đường bên trái hướng Phiêng Khoài – Lóng Phiêng.

- 01 xe máy loại Wave, sơn màu đỏ, BKS 59V1-055.68, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 mũ bảo hiểm xe máy, loại mũ có cằm, màu sơn đen, nhãn hiệu SNELL, kính mũ màu đen, mũ cũ đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViWa, màu đen, loại máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng.

- 01 mảnh nilon màu đen, đã qua sử dụng.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện phối hợp với Phòng PC54 Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng tang vật thu giữ của Nguyễn Minh T. Dùng cân điện tử cân tách bì toàn bộ 58 viên nén màu hồng, không rõ hình dạng, kích thước trong túi nilon màu trắng có khối lượng là 4,85 gam, trích 05 viên nén màu hồng có khối lượng 0,42 gam để giám định, ký hiệu là H. Vật chứng còn lại là 53 viên nén màu hồng có khối lượng 4,43 gam được cho vào trong túi nilon màu trắng, ký hiệu là T nhập kho tang vật vụ án.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 797 trưng cầu mẫu H gửi giám định có phải ma túy không? Loại ma túy gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?

Tại bản Kết luận giám định số: 959 ngày 17/8/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,42 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 4,85 gam loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại bản Cáo trạng số 66/2018/CT- VKSYC ngày 15 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Minh T từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

-Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng điểm a, c Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) Phong bì giấy màu trắng, mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho tang vật vụ án Nguyễn Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 12/8/2018 gồm mẫu ký hiệu T = 4,43 gam + 01 Phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh nilon màu trắng”, mặt sau phong bì tại các mép dán của phong bì thư được dán giấy niêm phong có ghi cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Lơn La, giấy niêm phong, ngày 12 tháng 8 năm 2018 và đầy đủ chữ ký, tên các thành viên tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

+Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe máy loại Wave, sơn màu đỏ, BKS 59V1-055.68, số khung 123115, số máy 123115, xe cũ đã qua sử dụng;

+ Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Minh T: 01 mũ bảo hiểm xe máy, loại mũ có cằm, màu sơn đen, nhãn hiệu SNELL, kính mũ màu đen, mũ cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViWa, màu đen, loại máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành phần án phí.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng là bị cáo Nguyễn Minh T xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận toàn bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh

, như đã khai tại cơ quan Điề u tra

, số hồng phiến (Methamphetamine) của bị cáo bị tổ công tác Công an huyện Y thu giữ có nguồn gốc là mua của một người đàn ông, dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ, mục đích mua sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi, bị cáo không khai gì thêm so với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Minh T do tổ công tác Công an huyện Y lập vào hồi 14 giờ 20 phút, ngày 12/8/2018 biên bản thu giữ vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định, bản kết luận giám định số: 959 ngày 28/6/2018 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,42 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 4,85 gam loại Methamphetamine nằm trong danh mục II, Stt: 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Minh T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 12/8/2018 bị cáo Nguyễn Minh T đã có hành vi tàng trữ 4,85 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: Tại Bản án số: 49//2008/HSST ngày 07/5/2008 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La xử phạt Nguyễn Minh T 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

3 Về hì nh phạ t bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đ (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

4 Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (Một) Phong bì giấy màu trắng, mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho tang vật vụ án Nguyễn Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 12/8/2018 gồm mẫu ký hiệu T = 4,43 gam + 01 Phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh nilon màu trắng”, mặt sau phong bì tại các mép dán của phong bì thư được dán giấy niêm phong có ghi cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Sơn La, giấy niêm phong, ngày 12 tháng 8 năm 2018 và đầy đủ chữ ký, tên các thành viên tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Sơn La. Xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViWa, màu đen, loại máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm xe máy, loại mũ có cằm, màu sơn đen, nhãn hiệu SNELL, kính mũ màu đen, mũ cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, có giá trị không lớn và không liên quan đến việc phạm tội do đó cần trả cho bị cáo. Tuy nhiên cần tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo công tác thi hành phần án phí.

Đối với 01 xe máy loại Wave, sơn màu đỏ, BKS 59V1-055.68, số khung 123115, số máy 123115, xe cũ đã qua sử dụng. Là tài sản hợp pháp của bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

5 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

6 Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Minh T, theo lời khai của T là một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng bán ma túy cho Tiến nên không đề cập đến việc xử lý.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 12/8/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) Phong bì giấy màu trắng, mặt trước ghi: “Vật chứng nhập kho tang vật vụ án Nguyễn Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 12/8/2018 gồm mẫu ký hiệu T = 4,43 gam + 01 Phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh nilon màu trắng”, mặt sau phong bì tại các mép dán của phong bì thư được dán giấy niêm phong có ghi cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Sơn La, giấy niêm phong, ngày 12 tháng 8 năm 2018 và đầy đủ chữ ký, tên các thành viên tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Sơn La.

- Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe máy loại Wave, sơn màu đỏ, BKS 59V1-055.68, số khung 123115, số máy 123115, xe cũ đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Minh T.

- Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Minh T: 01 mũ bảo hiểm xe máy, loại mũ có cằm, màu sơn đen, nhãn hiệu SNELL, kính mũ màu đen, mũ cũ đã qua sử dụng.

- Tuyên tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViWa, màu đen, loại máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng để đảm bảo cho việc thi hành phần án phí.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Minh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/11/2018) lên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Cỡ chữ