vanban.org

Bản án 75/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 19/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 59/L-CCSĐT ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đối với bị cáo Trần Văn H. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” - phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
0TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2018/HS-ST
Ngày 19 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Trần Phúc.

2. Bà Hoàng Thị Thu Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2018/QÐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh năm 1990, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 và bà Phạm Thị Đ1; chưa có vợ, con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 19/9/2018 đến ngày 28/9/2018 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại khu vực làm thủ tục Trạm kiểm soát Biên phòng Phước Tân, Đồn Biên phòng Phước Tân, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh, lực lượng Biên phòng thuộc đồn Biên phòng Phước Tân phối hợp với Công an huyện Châu Thành và chi cục Hải quan cửa khẩu Phước Tân phát hiện Trần Văn H nhập cảnh từ Campuchia về Việt Nam có hành vi vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới với số tiền 103.000.000 VNĐ. Tang vật thu giữ gồm 201 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng; 09 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 200.000 đồng; 06 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 100.000 đồng; 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 50.000 đồng cùng một số tang vật khác. Kết luận định giá số 1332 ngày 13/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: 201 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng; 09 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 200.000 đồng; 06 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 100.000 đồng; 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 50.000 đồng là tiền thật. Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Thu giữ tiền Việt Nam 103.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J8-màu bạc, 01 giấy chứng minh nhân dân số 312176189 mang tên Trần Văn H; 01 xe mô tô màu xanh biển số 70K5-5989 (đã trả lại chủ sở hữu). Bản cáo trạng số: 70/QĐ/KSĐT ngày 23 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo điểm a khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh nêu trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 189, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đến 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh và không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Văn H: Bị cáo ăn năn hối hận việc làm của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo Trần Văn H thể hiện: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại khu vực làm thủ tục Trạm kiểm soát Biên phòng Phước Tân, Đồn Biên phòng Phước Tân, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh, Trần Văn H vận chuyển trái phép số tiền 103.000.000 VNĐ từ Campuchia về Việt Nam thì bị bắt quả tang. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo điểm a khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng chống tội phạm. Khi quyết định hình phạt, có xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Văn H thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phù hợp đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Xét thấy, gia đình bị cáo là hộ nghèo, bị cáo không có tài sản nhưng đã nộp 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo thi hành án do đó áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. [4] Biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự. Do áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Văn H. [5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền Việt Nam 103.000.000 đồng bị thu giữ do bị cáo vận chuyển trái phép qua biên giới nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung J8 màu bạc đã qua sử dụng của bị cáo Trần Văn H, 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 312176189 mang tên Trần Văn H không là vật chứng của vụ án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

- Đối với 01 (một) xe mô tô mang biển số 70K5-5989, số máy VGMNE-0011111, số khung MPCG0262Y011111 của chủ sở hữu anh Nguyễn Văn G: Xét thấy anh Nguyễn Văn G chạy xe ôm, không liên quan trong vụ án này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã trả lại 01 (một) xe mô tô này cho anh Nguyễn Văn G là hợp lý; [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng; khấu trừ số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004561 ngày 19/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bị cáo đã nộp xong. 2. Biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 59/L-CCSĐT ngày 28 tháng 9 năm 2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đối với bị cáo Trần Văn H.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam 103.000.000 (một trăm linh ba triệu) đồng.

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn H: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung J8 màu bạc đã qua sử dụng, 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 312176189 mang tên Trần Văn H.

(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/10/2018).

4. Án phí:

Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ