vanban.org

Bản án 75/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè: BÞ c¸o Nguyễn Trung K ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

¸p dông khoản 1 Điều 194, ®iÓm p kho¶n 1 §iÒu 46, ĐiÒu 33 Bé luËt h×nh sù. Xö ph¹t bị cáo Nguyễn Trung K 02(hai) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 15/6/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Trung K - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ c¸o Nguyễn Trung K ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2017/HSST
Ngày: 19/9/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Nghị và ông Đinh Ngọc Phức.

-Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lưu Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở UBND xã Văn Cẩm, huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2017/QĐST – HS ngày 06/9/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung K sinh ngày 31/7/1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Y; có vợ Nguyễn Thị Y và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/6/2017, đến ngày 18/6/2017 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình “có mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988 Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 15/6/2017 tại khu vực trước cổng nhà ông Hoàng Quốc H sinh năm 1963, ở khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Trung K có hành vi thả 01 gói nilon trong suốt từ tay trái xuống đất ngay cạnh chỗ K đứng, Cơ quan Công an yêu cầu K nhặt gói nilon lên, kiểm tra bên trong là lớp vỏ bao thuốc lá Thăng Long, trong lớp vỏ bao thuốc lá có 01 gói giấy tráng kim màu trắng bạc, bên trong

-1

chứa chất bột màu trắng dạng cục, K khai nhận đó là ma túy (Hêrôin), mục đích mua về để sử dụng. Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã niêm phong lại vật chứng. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của Nguyễn Trung K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobeel màu đỏ, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu WAVE α biển kiểm soát 89K1-061.42. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trung K, Công an huyện H không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 15/6/2017 Nguyễn Trung K điều khiển xe máy nhãn hiệu WAVE α biển kiểm soát 89K1-061.42 của gia đình đi từ nhà sang khu vực chân cầu Triều Dương thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên, mục đích đi mua ma túy về sử dụng. Tại đây bị cáo K gặp và mua 01 gói ma túy của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 1.500.000 đồng. K cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái và đi về đến khu vực trước cổng nhà anh Hoàng Quốc H ở khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình thì bị Công an huyện H, phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 246/KLGĐ - PC54 ngày 16/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu gửi giám định thu của Nguyễn Trung K là ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng 0,9586 gam. Hêroin STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.” (Bút lục số 29).

Bản cáo trạng số 77/2017/CT- VKS ngày 30-8-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Trung K như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Trung K bị nghiện ma túy nên không có thu nhập, không áp dụng hình phạt bổ sung với hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41Bộ luật hình sự.

Tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 264/KLGĐ – PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình bên trong có Hêrôin; Trả lại bị cáo Nguyễn Trung K 01điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã cũ; bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

-2

Bị cáo Nguyễn Trung K nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo K không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo K: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung K tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập hồi 12 giờ 30 ngày 15/6/2017 (Bút lục số 20 và 21); lời khai của những người làm chứng: anh Hoàng Quốc H, sinh năm 1963 và anh Hoàng Đức T, sinh năm 1982, cùng trú tại khu An Tảo, thị trấn Hưng Nhân, huyện H, tỉnh Thái Bình (Bút lục từ số 33 đến số 40); lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988, trú tại Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (Bút lục từ số 41,42), cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 15/6/2017, tại địa phận khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Trung K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,9586 gam Hêrôin, mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Trung K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Trung K là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

XÐt tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o, c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù:

Hµnh vi tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tóy mµ bÞ c¸o Nguyễn Trung K thùc hiÖn lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· x©m ph¹m chính sách độc quyền qu¶n lý của Nhµ n íc về c¸c chÊt ma tóy. Hµnh vi cña bÞ c¸o cßn lµm mÊt trËt tù trÞ an vµ g©y bÊt b×nh

-3

trong quÇn chóng nh©n d©n t¹i ®Þa ph ¬ng và là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác như trộm cắp tài sản, giết người, cướp giật tài sản ….

Bị c¸o Nguyễn Trung K không bÞ ¸p dông t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù nào theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 48 Bé luËt h×nh sù, quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai b¸o thµnh khÈn nªn ® îc ¸p dông t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo quy ®Þnh t¹i ®iÓm p kho¶n 1 §iÒu 46 Bé luËt h×nh sù. Từ những nhận xét trên, Hội đồng xét xử xét thấy cÇn ph¶i tiếp tục c¸ch ly bÞ c¸o khái cuéc sèng x· héi trong mét thêi gian nhÊt ®Þnh, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o bÞ c¸o nãi riªng vµ phßng ngõa chung cho x· héi.

Về nguồn gốc ma tuý, Nguyễn Trung K khai nhận: Ngày 15/6/2017, K gặp và mua 01 gói ma túy của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực chân cầu Triều Dương thuộc địa phận huyện T, tỉnh Hưng Yên với giá 1.500.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo K nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về hình phạt bổ sung như phạt tiền: Xét bị cáo Nguyễn Trung K là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện để thi hành nên không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: 0,9293gam hêrôin chứa trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 246/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án cần tịch thu để tiêu huỷ; 01điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã cũ là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm cần trả lại bị cáo Nguyễn Trung K.

Chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu WAVE α biển kiểm soát 89K1-061.42 cơ quan điều tra quản lý của bị cáo. Qua điều tra xác minh đây là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng bị cáo K, bị cáo lấy đi mua ma túy chị Y không hề biết, bị cáo cũng không nói cho chị Y biết. do vậy cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho chị Nguyễn Thị Y (vợ bị cáo) là đúng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyªn bè: BÞ c¸o Nguyễn Trung K ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

2. ¸p dông khoản 1 Điều 194, ®iÓm p kho¶n 1 §iÒu 46, ĐiÒu 33 Bé luËt h×nh sù.

-4

3. Xö ph¹t bị cáo Nguyễn Trung K 02(hai) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 15/6/2017.

4. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41Bộ luật hình sự.

4.1 Tịch thu để tiêu huỷ: 0,9293gam hêrôin chứa trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 246/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

4.2 Trả lại bị cáo Nguyễn Trung K 01điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã cũ.

(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

5. VÒ ¸n phÝ: BÞ c¸o Nguyễn Trung K ph¶i chÞu 200.000® tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

BÞ c¸o Nguyễn Trung K và chị Nguyễn Thị Y cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. * Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

ơ

- VKSND huyện H;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Chi cục THADS huyện H;

(đã ký)

- Những người tham gia tố tụng;

- Công an huyện H;

- Lưu hồ sơ.

Trần Thị Nhàn

-5

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN HƯNG HÀ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH THÁI BÌNH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hưng Hà, ngày 19 tháng 9 năm 2017

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

* Với Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Nghị và ông Đinh Ngọc Phức.

Căn cứ vào các điều 199, Điều 222 của bộ luật tố tụng hình sự;

Vào hồi 09 giờ 45 phút, ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án vụ án hình sự đối với bị cáo:

Nguyễn Trung K sinh ngày 31/7/1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:

1. Về tội danh:

Tuyªn bè: BÞ c¸o Nguyễn Trung K ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

Kết quả biểu quyết 3/3.

2. Về điều luật áp dụng:

¸p dông khoản 1 Điều 194, ®iÓm p kho¶n 1 §iÒu 46, ĐiÒu 33 Bé luËt h×nh sù.

Kết quả biểu quyết 3/3.

3. Về hình phạt: Xöph¹tbị cáo Nguyễn Trung K02(hai)năm tù,thêih¹ntïtÝnhtõngµy b¾tt¹mgi÷15/6/2017.

Kết quả biểu quyết 3/3.

4. Về các vấn đề khác:

VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41Bộ luật hình sự.

Tịch thu để tiêu huỷ: 0,9293 gam hêrôin chứa trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 246/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

Trả lại bị cáo Nguyễn Trung K 01điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã cũ.

(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

VÒ ¸n phÝ: BÞ c¸o Nguyễn Trung K ph¶i chÞu 200.000® tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

-6

Kết quả biểu quyết 3/3.

Biên bản đã được thông qua tại phòng nghị án vào hồi 10 giờ 00 phút cùng ngày. Các Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ