vanban.org

Bản án 75/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 27/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tí ch".

Xử phạt: Nguyễ n Văn H 27 (hai mươi bả y ) tháng tùcho hưỡ ng á n treo , thờ i gian thử thá ch 54 (năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2017). Giao bị cáo Nguyễ n Văn H cho Ủy ban nhân xã H, huyệ n B, tỉnh Quảng Bình để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn Hải - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tí ch".
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUỴỆN B
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2017/ HSST
Ngày: 28/11/2017.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Phú Quảng

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễ n Văn Cao và ông Nguyễn Xuân Cườ ng.

Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Ngọc Quảng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên tòa:Bà Nguyễ n Hoà ng Quỳ nh Chi - Kiểm sát viên.

Hồi 14 giờ 00ngày 28 tháng 11 năm 2017. tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 62/2017/HSST ngày 11/10/2017 theo Quyế t định đưa vụ á n ra xé t xử số 68/2017/QĐXXST – HS ngà y 16/10/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Cầy R; Sinh ngày 01tháng 01năm 1981, tại B, Quảng Bình; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 6, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao độ ng tự do; Bố: Nguyễn Văn R, SN 1955 và Mẹ: Nguyễn Thị Ch, SN 1955 đều làm ruộng tại xã H , huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cá o bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B

từ ngày 20/6/2017 đến ngày 31/7/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn "Bảo lĩnh".Theo giấ y triệ u tậ p, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Ngườ i bị hạ i: Anh Dương Văn H; Trú tại: Thôn 1B, xã Đ, huyệ n B, tỉnh Quảng Bình (có mặt).

NỘ I DUNG VỤ Á N :

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên toà , nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bức xúc vì bị anh Trần Văn Th, trú tại thôn 2, xã Đ bắt và phạt Trâu gia đình mình vào ngày 16/03/2017 nên khoảng 17 giờ ngày 19/3/2017, Nguyễn Văn H (tự Cầy R), sinh năm 1981, trú tại thôn 6 xã H rủ các đối tượng Hoàng Minh Th, Hoàng Mạnh H và Hoàng Minh T đều trú cùng xã đi cùng mình xuống cánh đồng xã Đ để doạ người bắt phạt trâu thì được ba người đồng ý và đi theo. Trên đường đi, H ghé vào nhà bà Nguyễn Thị D (cô ruột của H) ở thôn 6, xã H lấy ba con dao tự chế và một ống tuýp kim loại bọc kín trong áo khoác rồi cả bốn người chạy xe máy ra cánh đồng tới bờ đê mương tiêu chổ ranh giới giữa xã H và Đ. Khi đến nơi, H lội qua trước, thấy H mang theo hung khí nên Th, Hvà Tsợ chần chừ không qua thì H nói “bây qua cho đông chỉ dọa chứ không làm gì đâu”, lúc này cả ba mới lội qua mương tiêu đi theo H. H đưa cho Th ống tuýp, T và H mỗi người một con dao, còn H cầm một con dao và nói với mọi người cầm để doạ, cả nhóm đi đến hồ cá gần bờ đê mương tiêu thuộc thôn 1B xã Đ, thấy anh Dương Văn H và cháu Dương Ngọc H đang bẫy chim sát bờ hồ cá, H đến gần hỏi cháu H “Có phải bố đó không?”, cháu H nói không phải, H tiếp tục hỏi “Có phải tên A không?”, Hưng trả lời “không phải đó là bác H”. Sau đó, H kẹp dao sau lưng đi xuống vị trí anh H đang đứng, anh H hỏi “xuống để làm gì” thì H trả lời “xuống để học cách bẫy chim về uống rượu”, nói xong H dùng sóng dao đánh vào hông trái của anh H, anh H bỏ chạy về phía bờ đê hướng mương tiêu xã H thì H đuổi kịp tiếp tục dùng lưỡi dao chém hai nhát vào mông trái, đùi trái và trở sóng dao đánh vào bả vai trái, bắp tay trái, lưng bên trái người anh H. Lúc này T, Th và Hoàng Mạnh H đứng cách H 10 m, thấy H đánh chém anh H, cả ba người chạy theo để can ngăn, Hoàng Mạnh H chạy đến can ngăn và làm rơi dao của H ra nhưng Hvẫn tiếp tục dùng tay chân đấm và đạp vào đầu, lưng của anh H. Hoàng Mạnh H tiếp tục can ngăn và cùng T, T đưa H về nhà. Hậu quả: Anh Dương Văn H bị 05 vết thương, cụ thể: Vết xây xát da dưới sau vai trái màu nâu sẫm KT (1,5x0,4)cm; Đám sưng nề màu vàng xanh vùng lưng trái KT (9x7)cm; Đám sưng nề bầm tím 1/3 trên sau cánh tay trái KT (4x3,5)cm; Vết thương ¼ trên ngoài mông trái làm đứt bán phần cân cơ, đã khâu phục hồi vết thương KT (9x0,1)cm bờ mép sắc nhọn; Vết thương 1/3 trên ngoài đùi trái làm đứt gân cơ và bán phần tĩnh mạch đùi, đã phẫu thuật chuyển vạt cơ, nối vi phẩu tĩnh mạch đùi sâu và khâu phục hồi vết thương KT (9x0,1)cm bờ mép sắc nhọn. Kết luận giám định pháp y về thương tích số 14/TgT ngày 27/3/2017 của Trung tâm GĐYK - PY, Sở y tế tỉnh Quảng Bình kết luận: Tổng tỷ lệ thương tích của anh Dương Văn H do bị các thương tích gây nên là 15% (Mười lăm phần trăm).

Vật chứng vụ án: Thu giữ hai con dao bằng kim loại màu xám, dài 55cm, cán hình trụ dài 20cm, lưỡi dao dài 35cm được hàn liền với cán dao, nơi rộng nhất của lưỡi dao rộng 7cm, nơi hẹp nhất 4cm, lưỡi dao sắc, sóng dao bằng; 01 con dao bằng kim loại màu sáng bạc, lưỡi dao hình chữ nhật KT (4x45)cm cán dài 11cm. Đối với phần ốp tuýp bằng kim loại hình chữ nhật dài khoảng 70 - 80cm, rộng 10cm, cao 7cm, sau khi ra về Thắng đưa lại cho H và H đã vứt lại khu vực mương tiêu xã H, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.

Trách nhiệm dân sự:Bị cáo Nguyễn Văn H đã thỏa thuận bồi thường đầy đủ chi phí điều trị, tổn thất tinh thần và các chi phí hợp lý khác số tiền 35.000.000đ cho bị hại Dương Văn H. Tại phiên toà ngườ i bị hạ i không có yêu cầ u gì thêm.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp lời trình bày của ngườ i bị hạ i vànhững người làm chứng, phù hợp không gian, thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa. Ngườ i bị hạ i trì nh bà y sau khi phạ m tộ i bị cá o đã thấ y đượ c sai phạ m, nên đã cù ng gia đì nh tí ch cự c thăm hỏ i , độ ng viên và bồ i thườ ng đầ y đủ cho họ , thái độ của bị cáo thể hiện sự ăn năn, hố i lỗ i đố i vớ i hà nh vi phạ m tộ i của mình.

Tại bản Cáo trạng số 66/THQCT - KSĐT ngày 11/10/2017 và Thông báo đí nh chí nh bổ sung Cá o trạ ng số 01/TB – VKS ngà y 13/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễ n Văn H về tội "Cố ý gây thương tích" theo khoản 2 Điều 104 (Thuộ c trườ ng hợ p a, i khoả n 1 Điề u 104) của Bộ luật hình sự năm 1999;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễ n Văn H theo tộ i danh và điề u khoả n theo Bộ luật hình sự đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 104 (Thuộ c trườ ng hợ p a, i khoả n 1 Điề u 104) Bộ luậ t hì nh sự năm 1999; Các điểm b, pkhoản 1, 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự 1999; điể m đ khoản 2 Điều 134, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.Xử phạt: Nguyễ n Văn H từ24 (hai mươi bố n) đến 30 (ba mươi)tháng tù , cho hưỡ ng á n treo , thờ i gian thử thá ch từ 48 (bố n mươi tám) đến 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2017) và đề nghị xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n, căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á nđã

đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên toà , Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:

Về hà nh vi , quyế t định tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an huyệ n B , Điề u tra viên , Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n B , Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự, thủ tục quy định của Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi , quyế t định củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng , ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng . Do đó cá c hà nh vi, quyế t định tố tụ ng Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng , ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.

Về hà nh vi phạ m tộ i củ a bị cá o , Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y:

Lờ i khai nhậ n tộ i củ a bị cá o , lờ i khai củ a ngườ i bị hạ i và lờ i khai củ a nhữ ng ngườ i là m chứ ng , vậ t chứ ng thu giữ đượ c , dấ u vế t thương tí ch củ a ngườ i bị hại, không gian, thờ i gian , địa điể m bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị phát hiệ n hoà n toà n phù hợ p nhau . Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Ngày 19/3/2017 tại xã Đ, huyện B, Nguyễn Văn H đã dùng dao tự chế bằng kim loại màu xám dài 55cm, cán dài 20cm, lưỡi dao dài 35cm là hung khí nguy hiểm đánh và chém vào người anh Dương Văn H gây thương tích ở vùng mông, vai, lưng, đùi và cánh tay trái với tỷ lệ thương tích các vết thương là 15% (mười lăm phần trăm). Đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là tính mạng, sứ c khoẻ củ a ngườ i khá c đượ c pháp luật bảo hộ ,bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i vớ i lỗ i cố ý trự c tiế p , giữ a bị cá o và ngườ i bị hạ i không hề có mối liên quan nào và cũng không có mâu thuẩ n gì trướ c đó , nhưng khi đi tì m anh Trần Văn Th, trú tại thôn 2, xã Đ là người bắt và phạt trâu gia đình bị cáo vào ngày 16/03/2017 để doạ anh Thvà trước đó H cũng đã biết mặt anh Th nhưng khi gặ p anh H bị cáo đã biế t đó không phả i là anh Th mà đã vô cớ dù ng dao , tay chân đá nh, chém anh Dương Văn H như đã nêu trên là đã phạ m và o tộ i “Cố ý gây thương t ích” theo khoản 2 Điề u 104 (Thuộ c trườ ng hợ p a, i khoả n 1 Điề u 104) do Bộ luật hình sự năm 1999 quy định, do vậy đối với H cần phải xử phạt mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đã biết ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo đã tí ch cự c bồi thườ ng đầ y đủ trách nhiệm dân sự cho ngườ i bị hạ i , đượ c ngườ i bị hạ i là m đơn bã i nạ i và xin giảm nhẹ hình phạt , đồ ng thờ i tại phiên toà người bị hại xin cho bị cáo đượ c hưỡ ng á n treo, bị cáo cũng có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn , bố đẻ bị tàn tật , mẹ thường xuyên đau ốm , bản thân là lao động chính nuôi sống gia đì nh,trong quá trì nh sinh số ng tạ i địa phương đã có công tì m kiế m, cứ u nạ n giú p đỡ ngườ i dân địa phương và o trậ n lũ năm 1995 đượ c chí nh quyề n đị a phương xác nhận, sau khi phạ m tộ i đã bỏ trố n nên Cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n B đã ra quyế t định truy nã bị cá o nhưng sau đó bị cá o đã nhậ n thứ c đượ c việ c là m củ a mì nh là vi phạ m phá p luậ t nên đã ra đầ

u thú để đượ c hưở ng sự khoan hồ ng củ a phá p luậ t , bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt tạm giam mộ t thờ i gian , sau đó đượ c thay đổ i biệ n phá p ngăn chặ n “Bả o lĩ nh” , trong thời gian này bị cáo cũng đã nhận thấy được lỗi lầm của mình và hứ a sẻ sửa chữa bản thân.

Đồng thời hiện nay chính sách hình sự đối với tội “Cố ý gây thương tí ch” có sự thay đổi, cụ thể khung hình phạt của tội “Cố ý gây thương tí ch” được quy định tại điể m đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 có giảm nhẹ về hình phạt. So sá nh quy định tại khoản 2 Điề u 104 (Thuộ c trườ ng hợ p a, i khoả n 1 Điề u 104) của Bộ luật hình sự năm 1999 và điể m đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 2015 thì tính nguy hiểm về hành vi của bị cáo đã thực hiện có giảm đi đáng kể . Do đó Hộ i đồ ng xé t xử sẻ đá nh giá và xem xét theo hướng có lợi về hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hộ i và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ , hiệ n nay có nơi cư trú rỏ ràng và theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B

tại phiên toà cho bị cá o đượ c hưở ng á n treo là thoả đáng , do đó Hộ i đồ ng xé t xử thấ y chưa cầ n thiế t phả i cá ch ly bị cá o ra khỏ i đờ i số ng xã hộ i mà cho bị cá o cả i tạo, giáo dục tại địa phương cũng đã có tác dụng giáo dục

, răn đe riêng và phòng ngừ a chung về loạ i tộ i phạ m nà y .

* Về trá ch nhiệ m dân sự : Đã giả i quyế t xong nên miễ n xé t .

* Vật chứng vụ án: Số vậ t chứ ng hai con dao bằng kim loại màu xám , dài 55cm, cán hình trụ dài 20cm, lưỡi dao dài 35cm được hàn liền với cán dao, nơi rộng nhất của lưỡi dao rộng 7cm, nơi hẹp nhất 4cm, lưỡi dao sắc, sóng dao bằng; 01 con dao bằng kim loại màu sáng bạc, lưỡi dao hình chữ nhật KT (4x45)cm cán dài 11cm là công cụ dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụ ng nên cầ n tịch thu tiêu huỷ khi á n có hiệ u lự c phá p luậ t . Số vậ t chứ ng nà y hiệ n có tạ i Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyệ n B

theo biên bả n giao nhậ n vậ t chứ ng lậ p ngà y 23/10/2017 giữ a Cơ quan điề u tra Công huyệ n B và Chi cụ c Thi hành án dân sự huyện B .

Trong vụ án này, các đối tượng Hoàng Minh Th, Hoàng Mạnh H và Hoàng Minh T đi theo H và cầm hung khí để đe doạ nhưng không trực tiếp đánh anh H. Khi H đánh anh H thì các đối tượng đều can ngăn nên không xem xét xử lý là phù hợ p .

Tại phiên toà bị cáo nói lời sau cùng là đã thấy được hành vi của mình

thự c hiệ n là vi phạ m phá p luậ t , xin Hộ i đồ ng xé t xử xem xé t cân nhắ c cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiệ n cả i tạ o tố t , sớ m hoà nhậ p cộ ng đồ ng làm ăn lương thiện .

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tí ch".

Áp dụng khoản 2 Điều 104 (Thuộ c trườ ng hợ p a, i khoả n 1 Điề u 104) Bộ luậ t hì nh sự năm 1999; Các điểm b , p khoản 1, 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự 1999; điể m đ k hoản 2 Điều 134, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Nguyễ n Văn H 27 (hai mươi bả y ) tháng tùcho hưỡ ng á n treo , thờ i gian thử thá ch 54 (năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2017).

Giao bị cáo Nguyễ n Văn H cho Ủy ban nhân xã H, huyệ n B, tỉnh Quảng Bình để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo,gia đìnhbị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân xã H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

* Về trá ch nhiệ m dân sự : Miễ n xé t .

* Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu huỷ vậ t chứ ng là hai con dao bằng kim loại màu xám, dài 55cm, cán hình trụ dài 20cm, lưỡi dao dài 35cm được hàn liền với cán dao, nơi rộng nhất của lưỡi dao rộng 7cm, nơi hẹp nhất 4cm, lưỡi dao sắc, sóng dao bằng; 01 con dao bằng kim loại màu sáng bạc, lưỡi dao hình chữ nhật KT (4x45)cm cán dài 11cm. Số vậ t chứ ng nà y hiệ n có tạ i Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyệ n B

theo biên bả n giao nhậ n vậ t chứ ng lậ p ngà y 23/10/2017 giữ a Cơ quan điề u tra Công huyệ n B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B .

* Về á n phí : Áp dụng điều 99 bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễ n Văn H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo, ngườ i bị hạ i có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2017) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ