- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bá H - lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Bá H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 199/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 748/2026/HS-PT Ngày 08-9-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chu toa phiên toa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm;
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tai trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 674/2026/TLPT-HS ngày 06 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Trần Bá H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 199/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Bá H, sinh ngày 19/5/1990 tai tỉnh Nghệ An; Căn cước công dân số: 040090039053; nơi cư trú: xóm P, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá N, sinh năm 1950 và bà Thái Thị N1, sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tam giữ, tam giam từ ngày 06/4/2026 đên nay, hiện đang bị tam giam tai Trai tam giam B, Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tai phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hai; 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đên vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biên tai phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Bá H và bà Nguyễn Thị H1 có mối quan hệ là ban, có thời gian cùng tam trú tai phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Trong thời gian này, H và bà H1 quen với vợ chồng ông Nguyễn Văn Q và bà Vũ Thị Doãn. Đầu năm 2024, H và bà H1 về quê ở xã Q, tỉnh Nghệ An sinh sống.
Ngày 16/02/2024, ông Vũ Ngọc D (anh của bà Vũ Thị D1) tham gia đánh bac tai quán C thuộc khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) và bị Công an phường K bắt quả tang. Khi biêt tin, bà D1 sử dụng số điện thoai 0362.766.833 của chồng là ông Q gọi vào số điện thoai 0358.991.279 của H để nhờ lo cho ông D được tai ngoai. Mặc dù không quen biêt ai làm tai Công an phường K, nhưng H vẫn hứa giúp bà D1 với mục đích chiêm đoat tiền. Quá trình trao đổi, H nói số tiền lo cho ông D được tai ngoai là 120.000.000 đồng, bà D1 đồng ý. Sau đó, bà D1 báo cho vợ của ông D là bà Nguyễn Thị S biêt việc nhờ H giúp, bà S đồng ý. Do không có tài khoản Ngân hàng nên Hậu cung cấp số tài khoản 666 0505 999 tai Ngân hàng Thương mai Cổ phần Q1 (M) của bà H1 cho bà D1 để chuyển tiền. H không nói cho bà H1 biêt mục đích nhận số tiền này, mà chỉ bảo bà H1 là tiền H vay để làm ăn. Bà S sử dụng số tài khoản 6505 009 480 tai Ngân hàng Thương mai Cổ phần Đ (B) chuyển số tiền 120.000.000 đồng đên số tài khoản của bà H1. Sau đó, H gặp bà H1 lấy số tiền trên.
Ngày 18/02/2024, ông D được Công an phường K cho tai ngoai. Biêt được sự việc trên, ông D điện thoai và nhắn tin cho H với nội dung: “không có nhu cầu chay án” và yêu cầu H trả lai số tiền 120.000.000 đồng nhưng H bảo không quen biêt với ông D, không đồng ý trả lai tiền. Sau nhiều lần trao đổi nhưng không lấy lai được tiền, ông D đã gửi đơn tố cáo H đên Công an phường K.
Công an phường K lập hồ sơ ban đầu và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H thụ lý theo thẩm quyền.
Sau khi biêt ông D gửi đơn tố cáo đên cơ quan Công an, H đã liên hệ với một người tên H2 (là ban của H, không rõ lai lịch) nhờ trả số tiền 120.000.000 đồng cho ông D. Sau khi nhận lai tiền, ông D làm đơn xin rút lai đơn tố cáo.
Ngày 06/4/2026, Trần Bá H đên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi chiêm đoat số tiền 120.000.000 đồng của bà S và ông D.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Vũ Ngọc D và bà Nguyễn Thị S đã nhận lai số tiền bị chiêm đoat nên không có yêu cầu gì khác.
Bản Cáo trang số 63/CT-VKSHCM-KV17 ngày 08/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Bá H về tội “Lừa đảo chiêm đoat tài sản” quy định tai điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tai Bản án hình sự sơ thẩm số 199/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyêt định:
Tuyên bố bị cáo Trần Bá H pham tội “Lừa đảo chiêm đoat tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phat bị cáo Trần Bá H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời han chấp hành hình phat tù tính từ ngày 06/4/2026.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 7 năm 2026, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phat.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toa trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về thời han kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời han luật định nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tai các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo: Tai phiên tòa, bị cáo Trần Bá H khai nhận toàn bộ hành vi pham tội của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm pham đên quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đên tình hình trật tự an toàn xã hội của địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiêp, khi thực hiện hành vi pham tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biêt rõ hành vi của mình là vi pham pháp luật nhưng vì lòng tham đã lợi dụng thời điểm gia đình bị hai đang hoang mang, lo lắng cho người nhà đang bị cơ quan Công an tam giữ, đã đưa ra thông tin gian dối nhằm chiêm đoat tài sản. Vì vậy, cần phải xử phat bị cáo mức hình phat nghiêm mới tương xứng với tính chất, mức độ tội pham của bị cáo, nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử phat bị cáo Trần Bá H 02 năm 06 tháng tù là phù hợp, đúng người, đúng tội, trên cơ sở đánh giá tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo thực hiện, đã xem xét đầy đủ tình tiêt giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ là không có căn cứ nên kháng cáo của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Bá H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 199/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo cho bị cáo, giảm nhẹ hình phat cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, chăm sóc cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tai phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời han luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyêt theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: tai phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi pham tội như nội dung bản án sơ thẩm, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 16 tháng 02 năm 2024, lợi dụng việc chồng của bà Nguyễn Thị S là ông Vũ Ngọc D đang bị tam giữ về hành vi đánh bac, mặc dù không quen biêt ai để có thể tác động cho ông D được tai ngoai, nhưng khi được nhờ giúp đỡ, bị cáo Trần Bá H vẫn hứa giúp nhằm mục đích nhận số tiền 120.000 000 đồng, sau đó chiêm đoat số tiền này. Hành vi của bị cáo Trần Bá H thực hiện đã đủ các yêu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiêm đoat tài sản” theo quy định tai điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Bá H về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phat của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ pham tội và xem xét đầy đủ các tình tiêt tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiêp xâm pham đên quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tai địa phương, làm giảm uy tín trong hoat động thu hút vốn đầu tư, sản xuất, kinh doanh tai địa phương. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiêt mới bổ sung cho yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phat cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng, đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa, giáo dục chung trong xã hội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thể sửa chữa bản thân và đảm bảo công tác phòng ngừa tội pham. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đai diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là cùng quan điểm với Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Các phần quyêt định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hêt thời han kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tai Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyêt số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyêt này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Bá H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 199/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phat bị cáo Trần Bá H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiêm đoat tài sản”. Thời han chấp hành hình phat tù tính từ ngày 06/4/2026.
2. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyêt số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Bị cáo Trần Bá H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyêt định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hêt thời han kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Phòng Hồ sơ - Công an TP.HCM; - TAND khu vực 17 - TP.HCM; - VKSND khu vực 17 - TP.HCM; - Trai tam giam Bố Lá (Cơ sở 1); - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Phòng THADS khu vực 17 - TP.HCM; - Lưu hồ sơ vụ án, VP, 25. (54) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Đức |