vanban.org

Bản án 748/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Mộng Q được ly hôn với ông Bùi Hữu Đại P. Về con chung: Đã thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Mộng Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 748/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22-11-2019
V/v tranh chấp về ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tiêu Kim Thuận.

Ông Trần Phú Nhuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 554/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 09 năm 2019 về tranh chấp về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2019/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 190/2019/QĐHPT-ST ngày 06 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Mộng Q, sinh năm 1968 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: 70/8 BTX, Phường N, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Bùi Hữu Đại P, sinh năm 1967 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 493/79/5F CMT 8, Phường MB, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/08/2019 và lời khai tại Tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị Mộng Q trình bày:

Bà và ông P tự nguyện kết hôn năm 1996, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường MB, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73/HT, quyển số 01, ngày 06/09/1996.

Quá trình sống chung, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2010, do ông P luôn cờ bạc, gây nợ nần và không quan tâm đến gia đình, chăm sóc vợ con. Nhiều lần bà đã cho cơ hội để ông P sửa đổi nhưng ông P không thay đổi. Bà và ông P đã ly thân từ năm 2010 đến nay. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu được ly hôn với ông P để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Đức D, sinh ngày 03/01/1998, đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q khai không có.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập ông P đến Toà để tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng ông P đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối.

Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Do bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị Toà án căn cứ vào lời khai và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Mộng Q yêu cầu ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn ông Bùi Hữu Đại P cư trú tại Quận 10 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét, nguyên đơn bà Hồ Thị Mộng Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Bùi Hữu Đại P vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Bùi Hữu Đại P.

Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 73/HT, quyển số 01 do UBND Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/09/1996, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Hồ Thị Mộng Q và ông Bùi Hữu Đại P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Xét, lời trình bày của bà Q, năm 2010 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông P thường xuyên chơi cờ bạc, gây nợ nần cho gia đình. Đồng thời ông không quan tâm chăm sóc vợ và con chung. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn, cho nhau cơ hội để đoàn tụ nhưng không thành, từ đó tới nay vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm và có trách nhiệm đối với nhau. Tình cảm vợ chồng không còn bà mong muốn được ly hôn với ông P để ổn định cuộc sống.

Mục đích của việc xác lập hôn nhân là nhằm gắn bó quan hệ giữa người nam và người nữ trong quan hệ vợ chồng, để họ chung sống với nhau và xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Xét thấy quan hệ vợ chồng không còn, trách nhiệm giữa đôi bên với nhau không có nên tình trạng vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Nếu tiếp tục chung sống thì không những không đem lại niềm vui, hạnh phúc mà còn đem lại sự đau khổ cho đôi bên, tình trạng đó ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc và giáo dục con cái. Do vậy, từ những phân tích trên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về con chung: Đã thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q khai không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà Q là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 2,3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,

Căn cứ vào Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Mộng Q được ly hôn với ông Bùi Hữu Đại P.

- Về con chung: Đã thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q khai không có.

2. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Q chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0017789 ngày 28/08/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ