vanban.org

Bản án 747/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 747/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10/8/2022
V/v “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hiền

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Từ Xuân Anh

2/ Bà Mai Thị Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận

Tân Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Bà Phạm Thị Út Hậu - Kiểm

sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm

công khai vụ án thụ lý số 347/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly

hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng

7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 168/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7

năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1984; Địa chỉ thường trú: Đường A,

phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: đường X, phường Y, quận

Z, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Đào Văn P, sinh năm 1982; Địa chỉ thường trú: Đường A, phường

B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ tạm trú: đường X, phường Y, quận Z, Thành

phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 01/03/2022 và quá trình tố tụng nguyên đơn, bà

Nguyễn Thị O trình bày: Bà và ông Đào Văn P tự nguyện chung sống từ năm 2009, có

đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 15, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

theo Giấy chứng nhận kết hôn số 202/2009, quyển số I/P15 cấp ngày 14/10/2009. Sau khi

kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống tại nhà cha mẹ ruột bà tại địa chỉ 318 Phạm Văn

Bạch, Phường 15, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, vợ chồng cư ngụ tại

địa chỉ: đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Quá trình

chung sống, hai vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm

trong cách suy nghĩ, ứng xử và nuôi dạy con cái. Những lúc mâu thuẫn ông Pđã đánh và có

những lời lẽ xúc phạm đến danh dự bà. Sau nhiều năm chung sống và cố gắng cải thiện

tình hình nhưng cho đến nay cũng không có kết quả. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Phúc, hôn nhân không có khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: có 01 con tên Đào Nguyễn Duy Ph, sinh ngày: 04/04/2012. Hiện nay

trẻ Ph đang ở với bà. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Phát, không yêu cầu ông Pcấp dưỡng cho con. Hiện nay bà làm nghể buôn bán tự do có thu nhập khoảng 16.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Okhai không có.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị O vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Về con chung bà yêu

cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Đào Nguyễn Duy Ph, sinh ngày: 04/04/201. Hiện nay trẻ Phđang ở với bà. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Ph, không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con. Bà làm nghể buôn bán tự do có thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn ông Đào Văn P vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình Phbiểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội

đồng xét xử, những người tham gia tố tụng từ khi vụ án được thụ lý cũng như tại phiên Tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không có.

Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và

căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị O khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Đào Văn P có nơi

cư trú tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến tòa để tham gia

phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Ngày 22/7/2022, Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự đến để tham gia xét xử nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa đồng thời thông báo cho các đương sự sẽ mở lại phiên tòa vào ngày 10/8/2022 nhưng bị đơn vẫn không đến tham gia phiên tòa mà không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án lập biên bản ghi nhận về việc không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân

Bình: Trong vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012, trường hợp này Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phải tham gia phiên tòa theo quy định.

Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số số 202/2009, quyển số I/P15

do Ủy ban nhân dân Phường 15, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày

14/10/2009 thể hiện hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị O và ông Đào Văn P là hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Phúc. Hội đồng xét xử

xét thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm

sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhằm tạo

dựng hạnh Pgia đình nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà Ovà ông PPhsinh mâu

thuẫn mà theo bà Otrình bày là do bất đồng quan điểm trong cách suy nghĩ, ứng xử và

nuôi dạy con cái. Những lúc mâu thuẫn ông Pđã đánh và có những lời lẽ xúc phạm đến

danh dự bà dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm với nhau

Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong toàn bộ quá trình Tòa án thụ lý giải quyết

vụ án, ông Pđều không có mặt để tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến cũng như quan

điểm về vụ án. Qua đó cũng đã chứng minh rằng ông không mong muốn hàn gắn tình

cảm vợ chồng. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình

cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn

tụ nên yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân của bà Olà có cơ sở, phù hợp với pháp luật và

thực tế để các bên ổn định đời sống.

Về con chung: Bà Oanh, ông Pcó 01 con tên Đào Nguyễn Duy Ph, sinh

ngày: 04/04/2012 hiện đang sống chung với bà Oanh. Bà Oyêu cầu được trực tiếp nuôi

dưỡng con chung. Xét việc trẻ Phđang sống với mẹ, lại có nguyện vọng được ở với mẹ.

Vì vậy để đảm bảo sự Phtriển ổn định của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận giao trẻ Phcho

bà Otrực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Okhông yêu cầu ông Pcấp

dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Bà O khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét

giải quyết.

Về nợ chung: Bà Okhai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải

quyết.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải

quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Ophải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1

Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và Gia

đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O về việc “Ly hôn”.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị O được ly hôn ông Đào Văn P.

3. Về con chung: Bà O và ông P có 01 con tên Đào Nguyễn Duy Ph, sinh ngày:

04/04/2012. Giao trẻ Ph cho bà Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con cho ông Đào Văn P do bà Okhông yêu cầu.

Quyền thăm nom chăm sóc con chung và các quyền, lợi ích chính đáng liên quan

đến việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con được pháp luật ghi nhận và bảo vệ tại các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay

đổi.

Ông P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bà O cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực

tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân tổ chức

theo qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Okhai không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) do bà

Nguyễn Thị O nộp nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0031194 ngày 31/03/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bà Ođã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị theo luật định.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 ; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ