- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cù Thị D - Hồ Minh T"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cù Thị D:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 746/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 8 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Thức
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 904/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1044/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1043/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Cù Thị D, sinh năm 1980; HKTT: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Ngụ tại: Số D đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ Minh T, sinh năm 1970; HKTT: Khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Ngụ tại: Số A đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/5/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Cù Thị D trình bày:
Bà và ông Hồ Minh T tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 129, quyển số 01 ngày 26/8/2004.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Năm 2004, bà sinh con nhưng ông T không quan tâm chăm sóc gia đình, kinh tế gia đình do một mình bà lo liệu, ông T chưa bao giờ đưa tiền cho bà để phụ giúp gia đình. Từ lúc bà sinh con đến khi con trưởng thành, con do một mình bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T còn chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần. Mặc dù bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T cũng không quan tâm, mặc kệ bà tự làm mọi việc trong cuộc sống. Do nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2013 đến nay, vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, thậm chí ông T ở đâu bà cũng không biết. Quá trình ly thân, ông T không hề liên lạc hay thăm hỏi con cái. Đến khi con trưởng thành cần làm hồ sơ để đi học thì bà mới biết được địa chỉ của ông T để nộp đơn ly hôn. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Minh T.
Về con chung: Bà D có một con chung là Hồ Quốc Đ, sinh ngày 20/12/2004. Con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập đương sự cho ông Hồ Minh T nhưng phía bị đơn không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn: Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 54, 56, 58, 68, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu của bà Cù Thị D về giải quyết cho bà ly hôn với ông Hồ Minh T. Về con chung, vợ chồng bà có một con chung là Hồ Quốc Đ, sinh ngày 20/12/2004. Do con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết. Về tài sản , nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết. Án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, sau khi nghị án Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 129, quyển số 01 ngày 26/8/2004 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì có cơ sở xác định bà Cù Thị D và ông Hồ Minh T có đăng ký kết hôn, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà D yêu cầu ly hôn, ông T có nơi cư ngụ tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục xét xử vắng mặt bà Cù Thị D: Bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 15/7/2024. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt ông Hồ Minh T: Do ông T vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông T1.
Tại phiên tòa, ông T không có mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về yêu cầu của nguyên đơn: Bà Cù Thị D yêu cầu ly hôn với ông Hồ Minh T:
Căn cứ lời khai của bà D thấy rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng từ nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong cuộc sống, bà D không nhận được sự quan tâm, chia sẻ của ông T, mọi việc trong gia đình cũng như kinh tế do một mình bà gánh vác. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài từ năm 2004 mặc dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay, mỗi người ở một nơi, vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Trong suốt thời gian ly thân, ông T không hề liên lạc hay thăm hỏi con cái
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông T là có thật và đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà D yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
. Về quan hệ con chung: Bà D khai nhận vợ chồng có một con chung là Hồ Quốc Đ, sinh ngày 20/12/2004. Con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về quan hệ tài sản:
- Về tài sản chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà D chịu án phí theo qui định của pháp luật là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cù Thị D:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Cù Thị D được ly hôn với ông Hồ Minh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 129, quyển số 01 ngày 26/8/2004 do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà Cù Thị D và ông Hồ Minh T không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Bà D khai nhận vợ chồng có một con chung là Hồ Quốc Đ, sinh ngày 20/12/2004. Do con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về quan hệ tài sản:
+ Về tài sản chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.
+ Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.
2/ Về án phí:
- Bà Cù Thị D chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006758 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3/ Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q.Tân Phú; - Chi cục THADS Q. Tân Phú; - UBND thị trấn Cái Tàu Hạ, H. Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hương |