- Tranh chấp gì? án hành chính — "Huỳnh Thị Đ kiện UBND huyện L"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Huỳnh Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 225 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 746/2022/HC-PT Ngày: 14 - 9 - 2022 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Văn
Ông Phạm Công Mười
- Thư ký phiên tòa: Ông Thới Ngọc Bắc – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 199/2022/TLPT-HC ngày 14 tháng 4 năm 2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2022/HC-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 767/2022/QĐ-PT ngày 19 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1984. Nơi cư trú: đường L, tổ dân phố S, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Lệ K, sinh năm 1993. Nơi cư trú: đường Ng, Phường 11, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Lê Thành T – Công ty Luật TNHH P – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người bị kiện:
1/. Ủy ban nhân dân huyện L; Địa chỉ: thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Sỹ B; chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh A; chức vụ: Phó Chủ tịch (Giấy ủy quyền số 22/GUQ ngày 16/7/2021, vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Tạ Xuân Th – chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L. (vắng mặt)
2/. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh A; chức vụ: Phó Chủ tịch (Giấy ủy quyền số 22/GUQ ngày 16/7/2021, vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ban quản lý chợ L; địa chỉ: Khu phố S, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. (có văn bản xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai của người khởi kiện trình bày:
Bà Huỳnh Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy một phần Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện L về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ (sau đây viết tắt là Quyết định số 194) và Quyết định số1330/QĐ-UBND ngày 29/03/2021 của Chủ tịch UBND huyện L về giải quyết khiếu nại đối với bà Huỳnh Thị Đ (sau đây viết tắt là Quyết định số 1330) vì các lý do sau:
Căn cứ Điều 1 Quyết định số 194 và căn cứ theo Bảng tổng hợp chi phí bồi thường cho các hộ kinh doanh tại chợ L thì mức bồi thường, hỗ trợ đối với bà Đ như sau:
- Số tiền được bồi thường thẻ quầy: 15.181.000 đồng.
- Số tiền được hỗ trợ tài sản cơi nới là: 5.764.000 đồng.
Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ: 20.945.000 đồng.
Việc UBND huyện L ban hành Quyết định số 194 là không đúng với Quyết định 03/2019 ngày 13/3/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng (sau đây viết tắt là Quyết định số 03/2019); không xem xét đến việc bồi thường về đất; hỗ trợ đối với vị trí mặt bằng kinh doanh (vị trí thuận lợi); hỗ trợ giá trị thương mại mặt bằng kinh doanh; cụ thể như sau:
1/. Đơn giá làm căn cứ bồi thường thẻ quầy (tài sản trên đất) và hỗ trợ tài sản cơi nới không đúng theo Quyết định 03/2019: Tại Phụ lục 1 đơn giá xây dựng mới nhà ở riêng lẻ (kết cấu nhà ở không phải nhà biệt thự) thì đơn giá xây dựng mới tại huyện L là: 5.700.205 đồng/m2, chưa tính đến các vật tư khác như tráng nền, lót gạch, dán gạch, làm cửa kéo, cửa cuốn, gắn đèn điện,... Trong khi đó, Quyết định số 194 lại áp mức giá là 4.744.000đ/m2 là không đúng theo quy định trên (chênh lệch 956.202đ/m2).Mặt khác, Bảng giá xây dựng có từ tháng 03/2019, nhưng đến năm 2021 mới có quyết định bồi thường mà không tính trượt giá là gây thiệt hại cho người khởi kiện.
Đối với việc cơi nới sửa chữa không bị lập biên bản, xử phạt hành chính buộc tháo dỡ, nên phải được xem xét bồi thường.
2/. Việc hỗ trợ, đền bù về đất là không phù hợp với lịch sử hình thành và phát triển chợ Đ cũ cũng như chính sách của Nhà nước và quá trình quản lý, sử dụng của người khởi kiện thể hiện: quá trình hình thành, phát triển chợ Đ, quá trình nhận chuyển nhượng, quản lý, sử dụng xác định: GCNQSH quầy hàng là một tài sản tương đương với quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
- Thứ nhất: Thẻ quầy được thế chấp vay vốn ở các ngân hàng thương mại (chủ yếu là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện) như là quyền sử dụng đất.
- Thứ hai: GCNQSH quầy hàng được cấp không thời hạn theo chính sách của UBND huyện L năm 1990 về việc khuyến khích các hộ dân mua điểm kinh doanh để có nơi kinh doanh ổn định, lâu dài. Thời điểm này, đa số người dân di kinh tế mới, đã bỏ ra số tiền rất lớn (giá quầy 2 mặt tiền: 2.500.000 đồng/1 quầy; 1 mặt tiền 2.000.000 đồng/1 quầy), lúc bấy giờ 01 quầy hàng trị giá tương đương với 01 lô đất xung quanh chợ; đồng thời có nghĩa vụ như người sử dụng đất.
- Thứ ba: Khi người dân không có nhu cầu kinh doanh thì được quyền sang nhượng quầy; khi sang nhượng phải ký Hợp đồng có công chứng, phải nộp lệ phí trước bạ (0,5%), thuế TNCN (2%) như đối với quyền sử dụng đất.
Do đó, việc Ban quản lý chợ L lại cho rằng Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy không phải là quyền sử dụng đất để né tránh việc bồi thường giá trị đất là không phù hợp với lịch sử hình thành, phát triển chợ cũng như nguồn gốc, quá trình sử dụng theo chính sách của Nhà nước.
3/. Quyết định số 194 đã không xem xét tính toán hỗ trợ đối với vị trí mặt bằng kinh doanh (vị trí thuận lợi) sát với thực tế.
4/. Quyết định số 194 cũng không xem xét tính toán hỗ trợ giá trị thương mại mặt bằng kinh doanh: Giá trị thương mại mặt bằng kinh doanh được xem là một tài sản lớn đối với người mua bán trong chợ. Bởi tài sản này bên cạnh giá trị nó còn thuận lợi về giao thông, hạ tầng dịch vụ, không gian lân cận, khả năng tạo ra đồng tiền từ hoạt động mua bán, cho thuê, sang nhượng lại. Đối với những vị trí thuận lợi, đắc địa mua bán hàng, giá cho thuê và sang nhượng càng cao.
Trong quá tình tố tụng, bà Huỳnh Thị Đ có đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên hủy: một phần Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01-7-2021 của UBND huyện L v/v phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ (sau đây viết tắt là Quyết định số 2801); tuyên hủy kết quả tổ chức bốc thăm điểm kinh doanh tại chợ Đ lần 1 ngày 11, 12, 13/11/2020, lần cuối ngày 20/9/2021 của Ban quản lý chợ Đ.
Theo ý kiến của đại diện người bị kiện UBND huyện L trình bày: Căn cứ nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng chợ Đ cho thấy toàn bộ nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ Đ cũ do UBND huyện đầu tư xây dựng, sau khi xây dựng chợ hoàn thành, UBND huyện đã tổ chức bán tài sản trên đất (các quầy hàng) cho các hộ thương nhân để thu hồi vốn đã đầu tư, các hộ kinh doanh mua quầy được UBND huyện cấp thẻ quầy bán hàng là những chủ sở hữu tài sản hợp pháp của quầy hàng, diện tích đất xây dựng chợ là đất công ích thuộc quyền quản lý của Nhà nước, do đó phương án bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định 194/QĐ-UBND ngày 13/01/2021, UBND huyện chỉ tính toán bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất (giá trị xây dựng các quầy hàng) mà không tính toán bồi thường về đất cho các hộ được cấp thẻ là thực hiện quy định tại Điều 75, Điều 88 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể:
- Bồi thường, hỗ trợ cho 209 hộ kinh doanh được cấp giấy chứng nhận sở hữu thẻ quầy:
+ Điều kiện, bồi thường, hỗ trợ: Căn cứ Điều 88 Luật đất đai năm 2013 quy định “Khi nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường”.
+ Phương pháp xác định khối lượng bồi thường: UBND huyện áp dụng phương pháp tính cấu kiện theo quy định hiện hành để xác định giá trị xây dựng các quầy hàng (Thông báo số 142/TB-UBND ngày 03/7/2020 của UBND huyện L).
+ Đơn giá áp dụng tính giá trị cấu kiện: Thực hiện theo Quyết định số 03/2019/QĐ-UBND ngày 13/3/2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng về ban hành đơn giá xây dựng mới biệt thự, nhà ở, nhà kính và đơn giá cấu kiện tổng hợp để xác định giá trị tài sản là công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
+ Giá trị bồi thường: Đơn giá hỗ trợ cho 01m2 của vị trí kinh doanh là 4.744.000 đồng.
- Đối với tài sản các hộ kinh doanh đã đầu tư cải tạo, cơi nới:
+ Điều kiện, bồi thường, hỗ trợ: áp dụng Khoản 1 Điều 13 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 29/12/2017.
+ Phương pháp xác định khối lượng: Kiểm kê tài sản, cơi nới của từng hộ kinh doanh;
+ Đơn giá hỗ trợ: Áp dụng khoản 2 Điều 1 Quyết định số 03/2019/QĐ-UBND ngày 13/3/2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng về ban hành đơn giá xây dựng mới biệt thự, nhà ở, nhà kính và đơn giá cấu kiện tổng hợp để xác định giá trị tài sản là công trình xây dựng trên địa bản tỉnh Lâm Đồng.
Như vậy, Quyết định 194/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện L được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, UBND huyện L không đồng ý, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
* Đại diện người bị kiện Chủ tịch UBND huyện L trình bày:
Căn cứ Điều 18 Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011, Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình. Do đó, Quyết định số 1330/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại đối với Huỳnh Thị Đ được Chủ tịch UBND huyện L ban hành đúng thẩm quyền.
Ngày 26/01/2021, sau khi nhận được đơn khiếu nại của người khởi kiện, UBND huyện L ban hành Quyết định về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại; Ngày 08/02/2021, Thanh tra huyện ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr về việc thành lập đoàn xác minh nội dung khiếu nại; Ngày 10/3/2021, UBND huyện L ban hành Quyết định về việc gia hạn thời gian xác minh nội dung khiếu nại; Ngày 11/3/2021, Thanh tra huyện ban hành Báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh nội dung đơn khiếu nại; Ngày 12/3/2021, UBND huyện L tổ chức đối thoại với người khởi kiện; Ngày 29/3/2021, Chủ tịch UBND huyện L ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, nội dung:
- Việc bà Huỳnh Thị Đ khiếu nại Quyết định số 194/QĐ-UBND về hỗ trợ đối với phần tài sản mà các hộ kinh doanh cơi nới chưa đúng quy định tại Quy định ban hành kèm Quyết định số 50/2017/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 của UBND tỉnh Lâm Đồng và việc UBND huyện chưa tính toán đến hỗ trợ ổn định đời sống cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh có thẻ quầy là không có cơ sở để xem xét; bởi vì: khi sử dụng các quầy hàng, các hộ tiểu thương tự ý cải tạo, cơi nới thêm công trình (cửa cuốn, kệ bán hàng, camera, hàng rào…) để phục vụ cho mục đích kinh doanh, bảo vệ tài sản mà chưa được UBND huyện cho phép. UBND huyện căn cứ khoản 1 Điều 13 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 của UBND tỉnh Lâm Đồng để xác định hỗ trợ giá trị tài sản của các hộ tiểu thương tự ý cải tạo, cơi nới là phù hợp với quy định.
- Về khiếu nại việc UBND huyện chưa tính toán hỗ trợ ổn định đời sống cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh có thẻ quầy là không có cơ sở vì:
+ Quyết định số 1674/QĐ-UBND ngày 06/11/1997 của UBND tỉnh Lâm Đồng về phê duyệt quy hoạch chung thị trấn Đ, xác định chợ Đ cũ là đất chợ thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Do đó, phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt tại Quyết định 194, UBND huyện L chỉ tính toán bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất (giá trị xây dựng các quầy hàng) mà không tính toán bồi thường về đất cho các hộ được cấp thẻ.
+ Khoản 1, Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 quy định điều kiện để được nhà nước hỗ trợ ổn định đời sống cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ..”.
Đối chiếu với các quy định trên, UBND huyện không hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh đối với các hộ đang kinh doanh tại chợ Đ cũ là đúng quy định của pháp luật.
Việc UBND huyện L thực hiện việc giải quyết khiếu nại đối với yêu cầu khiếu nại là thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để giải quyết.
+ Trong quá trình xác minh và giải quyết, UBND huyện L chấp nhận một phần nội dung khiếu nại với lý do: UBND huyện chưa xem xét tính toán hỗ trợ, đền bù đến vị trí, mặt bằng kinh doanh (vị trí thuận lợi) của từng quầy hàng theo giá trị mua thẻ quầy giai đoạn 1989-1990 và 1994-1995. UBND huyện đã giao cho các đơn vị có liên quan xem xét, rà soát lại phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ, trong đó lưu ý đến giá trị mua thẻ quầy tại thời điểm ban đầu, lợi thế vị trí thuận lợi của các quầy tại chợ Đ cũ để xem xét, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp để tính toán cho các hộ tiểu thương chợ Đ cũ nói chung.
Đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, Chủ tịch UBND huyện L không đồng ý, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ban quản lý chợ L thống nhất với nội dung trình bày của người bị kiện.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2022/HC-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã quyết định:
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 3; Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 157; khoản 1, khoản 3 Điều 158; Điều 164; Điều 191; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 348; Điều 358; Điều 206 của Luật tố tụng hành chính;
ị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí Tòa án;
2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành;
Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11-11-2011.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ về việc yêu cầu hủy:
- Một phần Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện L về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ liên quan đến việc bồi thường đối với bà Huỳnh Thị Đ;
- Một phần Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND huyện L phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ đối với bà Huỳnh Thị Đ;
- Quyết định số 1330/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện L về giải quyết khiếu nại đối với bà Huỳnh Thị Đ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 03/3/2022, người khởi kiện bà Huỳnh Thị Đ có đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người diện theo ủy quyền của bà Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện cho rằng Tòa cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đưa thiếu người tham gia tố tụng; chưa có căn cứ, tài liệu nào xác định là đất công nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của của mình. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện, người liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 225 của Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.
. Xét về tính hợp pháp và tính có căn cứ của các Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ, Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND huyện L phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ và Quyết định số 1330/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện L về giải quyết khiếu nại lần đầu, thấy rằng:
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính bị khởi kiện đều phù hợp với quy định pháp luật. Đồng thời đều là đối tượng khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 3, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.
. Xét lý do yêu cầu kháng cáo hủy bản án sơ thẩm của người khởi kiện bà Huỳnh Thị Đ, thấy rằng:
. Về quá trình hình thành, quản lý, sử dụng các điểm kinh doanh tại chợ Đ:
Năm 1989-1990 và năm 1994, UBND huyện L xây dựng chợ Đ với 246 điểm kinh doanh và giao cho Ban tài chính vật giá huyện L quản lý. Sau khi xây dựng, UBND huyện L đã bán 209 điểm kinh doanh cho các hộ tiểu thương với giá từ 02-2,5 triệu đồng/điểm kinh doanh (tùy thuộc vào từng vị trí thuận lợi), còn 37 điểm kinh doanh không bán; Đến ngày18/5/1996, UBND huyện L ban hành Quyết định số 180/QĐ-UB giao chợ Đ cho UBND thị trấn Đ quản lý. Ngày 14/4/1998, UBND huyện L ban hành Quyết định số 120/QĐ-UB thành lập Ban Quản lý chợ L trực thuộc UBND huyện, chợ Đ được UBND thị trấn bàn giao lại cho Ban Quản lý chợ L quản lý.
Theo bản đồ địa chính thị trấn Đ, đo vẽ năm 1992, chợ Đ thuộc thửa số 156, diện tích 7.135 m2(tờ bản đồ số 16), loại đất chuyên dùng; Theo tờ bản đồ địa chính thị trấn Đ, đo vẽ năm 2004, chợ Đ thuộc thửa số 221, diện tích 6.665,8m2, thửa số 64, diện tích 1.447,4m2 (tờ bản đồ số 61); thửa số 587, diện tích 100,5m2 (tờ bản đồ số 62), loại đất chuyên dùng; Theo Quyết định số 1674/QĐ-UBND ngày 06/11/1997 của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch chung thị trấn Đ, xác định chợ Đ là đất chợ thuộc quyền quản lý của Nhà nước.
. Như vậy, bà Huỳnh Thị Đ sở hữu quầy số 218 (Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng số 38 cấp đổi ngày 18/12/2010) và quầy số 217 nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thu Th (số cũ 30 do UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng cho bà Nguyễn Thu Th) nằm trong Chợ Đình Văn là đất do Nhà nước quản lý, nên bà Đ không đủ điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, việc người bị kiện chỉ hỗ trợ, bồi thường các tài sản trên đất tại các quầy số 217,218 cho bà Đ để thực hiện dự án Khu đô thị mới - Trung tâm Thương mại thị trấn Đ, huyện L mà không bồi thường về đất là đúng quy định pháp luật.
. Về phương pháp tính bồi thường, hỗ trợ, thấy rằng:
Theo phương án bồi thường các điểm kinh doanh có Giấy chứng nhận quyền sở hữu quầy hàng bằng 100% giá trị xây dựng mới (cách tính như sau: giá xây dựng 04 nhà lồng mới, chia ra giá trị trên 01m2, sau đó bồi thường cho các hộ tiểu thương được cấp thẻ quầy). Theo chiết tính của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện thì tổng giá trị xây dựng chợ là 5.123.644.323 đồng, tổng diện tích xây dựng là 1.080m2. Như vậy giá trị 01m2 xây dựng là 5.123.644.323 đồng/1.080m2 = 4.744.000 đồng/m2. Còn đối với phần các hộ tiểu thương đã đầu tư, cơi nới mà không thể di dời (tường, trần, nền, cửa, kệ làm bằng chất liệu gỗ, gạch, xi măng), phần tài sản này được bồi thường bằng 80% giá trị xây dựng mới theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Quyết định số 50/2017/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 của UBND tỉnh quy định về bồi thường, hồ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Như vậy, theo Quyết định số 194/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng chợ Đ, thì bà Huỳnh Thị Đ đã được UBND huyện L tính toán đơn giá bồi thường, hỗ trợ cụ thể: Giá trị bồi thường quầy số 218: 15.181.000 đồng; giá trị hỗ trợ phần tài sản cơi nới thêm của quầy 218: 5.764.000 đồng; Giá trị bồi thường quầy số 217: 15.181.000 đồng; giá trị hỗ trợ phần tài sản cơi nới thêm của quầy 217: 5.764.000 đồng.
Tổng cộng số tiền bà Đ được bồi thường, hỗ trợ: 41.890.000 đồng. Không tính toán bồi thường về đất, là phù hợp đúng quy định pháp luật.
. Về hỗ trợ, đền bù đến vị trí, mặt bằng kinh doanh (vị trí thuận lợi):
Ngày 01/7/2021, UBND huyện L ban hành Quyết định số 2801 phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ. Tuy nhiên, quầy hàng của bà Huỳnh Thị Đ không nằm ở vị trí có mặt bằng kinh doanh thuận lợi nằm trong nhà lồng chính, đồng thời thẻ quầy của bà Đ không phải là thẻ quầy được cấp giai đoạn 1989-1990 và 1994-1995, nên không được xem xét bồi thường bổ sung theo quyết định trên.
. Như vậy, mọi quyền lợi của bà Huỳnh Thị Đ đã được UBND huyện L xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật khi thu hồi giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ. Việc bà Huỳnh Thị Đ kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện L về việc phê duyệt phương án tính toán bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ là không có cơ sở chấp nhận, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng không được chấp nhận nên bà Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Huỳnh Thị Đ. Giữ nguyên quyết định Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2022/HC-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1/. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ về việc yêu cầu hủy:một phần Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 13/01/2021 của UBND huyện L về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng chợ Đ cũ liên quan đến việc bồi thường; một phần Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND huyện L phê duyệt phương án bồi thường bổ sung cho các quầy hàng có vị trí 02 mặt tiền nằm trong nhà lồng chính của chợ Đ cũ và Quyết định số 1330/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 của Chủ tịch UBND huyện L về giải quyết khiếu nại đối với bà Huỳnh Thị Đ.
2/. Án phí phúc thẩm bà Huỳnh Thị Đ phải chịu 300.000 đồng, ngày 18/3/2022 bà Đ có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008860 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng nay được đối trừ.
3/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Thành viên Hội đồng xét xử
| Phạm Công Mười Lê Thành Văn | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chung Văn Kết |