- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Trần Thị Hồng P - Lê Thị G"
- Tòa quyết gì? c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 146, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 746/2021/DS-PT Ngày: 30/12/2021 V/v “Tranh ch ấp đòi lại tài sản và quy ền sử dụng đất quy ền sở hữu nh à ở và tài s ản khác g ắn liền với đất và tranh ch ấp hợp đồng tín d ụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Oanh
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
2. Bà Nguyễn Thị L Hương
- Thư ký phiên to à: Ông Nguyễn Hữu Th ọ, cán bộ Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại di ện Vi ện ki ểm sát nhân dân Th ành ph ố Hồ Chí Minh: Ông
Nguyễn Văn Hoàng, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 30 tháng 12 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành ph ố
Hồ Chí Minh xét x ử phúc th ẩm công khai v ụ án th ụ lý s ố 231/DSPT ngày 09/7/2021, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản và quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 212/2021/DS-ST ngày 26/5/2021 của Tòa án
nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4445/2021/QĐPT-DS
ngày 24/11/2021 và Quyết định ho ãn phiên tòa s ố 11490 /2021/QĐ-PT ngày 14/12/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng P; sinh năm: 1972
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 12, Đường số: 43, Tổ 9, ấp T, xã T,
huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị G; sinh năm: 1946 (chết ngày 02/11/2021).
Những kế thừa đã ủy quyền cho bà Võ Thị Thu L sinh năm: 1983 (có mặt)
Nơi đăng ký h ộ kh ẩu th ường trú: Số: 8A, Đường số: 613 , ấp M, xã P,
huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ngân hàng TMCP Q (Tên viết tắt là VIB).
Địa chỉ: Tầng 1 và Tầng 2, Tòa nhà S – 111A Pasteur, phường Ng, Quận
X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng giámđốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Trần Anh T và ông Dương Phi H - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q (có
mặt).
- Bà Nguyễn Ái V1 - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà Pax Sky, 26 Ung V ăn Khiêm, Phường Y,
quận T, Tp. Hồ Chí Minh.
3.2. Ông Nguyễn Anh D, sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt).
3.3. Bà Nguyễn Thụy T A, sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ô 1/195, Khu p hố Thanh Bình A, th ị trấn G, huyện G, tỉnh
Tây Ninh.
3.4. Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
3.5. Ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 1975 (có đơn xin vắng mặt).
3.6. Ông Võ Thị Thu L, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt).
3.7. Cháu Huỳnh Văn L1, sinh năm 2003 – có ông Huỳnh Văn H và bà Lê
Thị G là người giám hộ (bà G có mặt).
3.8. Cháu Huỳnh Q T, sinh năm: 2004 (vắng mặt).
3.9. Cháu Huỳnh Võ Tú C, sinh năm: 2017 (vắng mặt).
3.10. Cháu Huỳnh Thái T2, sinh nắm: 2011 (vắng mặt)
Cùng có ông Huỳnh Văn Q và bà Võ Thị Thu L là người giám hộ.
3.11. Ông Huỳnh Văn V, sinh năm: 1975 (vắng mặt).
3.12. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm: 1972 (vắng mặt).
Cùng địa ch ỉ: Số 8A -8B, Đường số 613, T ổ 3, ấp M, Xã P, huyện C,
Thành phố Hồ Chí Minh.
3.13. Bà Trần Thị Ng, sinh năm 1940 (vắng mặt).
3.14. Ông Huỳnh Hữu T3, sinh năm: 1977 (có đơn xin vắng mặt).
3.15. Bà Huỳnh Thanh T4, sinh năm: 1983 (có đơn xin vắng mặt).
3.16. Ông Huỳnh Văn S, sinh năm: 1965 (có đơn xin vắng mặt).
3.17. Ông Huỳnh Văn T5, sinh năm: 1969 (có đơn xin vắng mặt).
3.18. Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm: 1974 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ 3, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.17. Bà Huỳnh Ngọc T6, sinh năm: 1979 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh.
3.18. Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm: 1963 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M1, xã H, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh.
3.19. Bà Huỳnh Thị S1, sinh năm:1967 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M1, xã H, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh.
3.20. Bà Huỳnh Thị L2, sinh năm:1971 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã Tr, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh.
3.21. Ông Nguyễn Khánh T7, sinh năm: 1973 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số 12, Đường số: 43, Tổ 9, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ
Chí Minh..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 12/3/2019, lời khai, biên bản làm việc,
biên bản phiên họp kiểm tra vi ệc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trần Thị Hồng P trình bày:
Ngày 22/8/2015, bà P có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Anh D và
bà Nguyễn Thụy T A phần đất diện tích 508,1m2 thuộc thửa 538, tờ bản đồ số 35, xã P, hợp đồng chuyển nhượng được công chứng số: 017428 tại Văn phòng công chứng C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 21/11/2016, bà P tiếp tục nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Ng
phần đất diện tích 120,6m2 thuộc một phần thửa đất số 100, tờ bản đồ số: 35, xã P, hợp đồng chuyển nhượng được công chứng số: 027893, quyển số: 04 TP/CC-SCC/HĐGD, lập tại Văn phòng công chứng C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 21/12/2016, bà Trần Thị Hồng P được Sở Tài nguyên và Môi trường
Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 130097, số vào sổ cấp GCN số: CS 03591, phần đất có diện tích 628.7m2, đối với hai thửa đất trên (hợp thành thửa 538, tờ bản đồ số 35, xã P, huyện C.
Khi nhận chuyển nhượng phần đất của ông D và bà T A thì trên th ửa đất
538 cũ (chưa nhập thửa đất số 100, tờ bản đồ số 35, xã P) có căn nhà ông D cho gia đình bà Lê Thị G ở nhờ. Lúc đó, bà P có trao đổi với ông D yêu cầu gia đình bà G di dời giao nhà, đất cho bà P thì gia đình bà G xin ở đến khi bà P có nhu cầu sử dụng thì sẽ dời đi.
Nay, bà P có nhu cầu sử dụng nhà, đất nên bà P yêu cầu gia đình bà G cùng
các con cháu di dời để trả lại nhà, đất cho bà P thì bà G cứ hẹn lần mà không dời đi. Do đó, để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, bà P yêu cầu Tòa buộc gia đình bà Lê Thị G và con cháu gồm Huỳnh Văn Q (con bà G), Võ Thị Thu L (Vợ anh Q), ông Hu ỳnh Văn V, ông Hu ỳnh Văn T1, ông Hu ỳnh Văn H và các cháu Huỳnh Văn L1 (có ông H); cháu Huỳnh Thái T2 , cháu Hu ỳnh Q T, cháu Huỳnh Võ Tú C (có ông Q và bà L) di dời trả lại nhà đất cho bà P. Bà P sẽ hổ trợ cho gia đình bà G cùng các con và cháu c ủa bà G số ti ền di d ời là 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng, ngay khi gia đình bà G và các con cháu dọn ra khỏi nhà đất.
* Đối với yêu cầu của ngân hàngTMCP Q (tên viết tắt là VIB):
- Ngày 09/01/2017, bà Tr ần Th ị Hồng P có ký H ợp đồng tín d ụng số:
0004.HĐTD.VIB630.17 với VIB Chi nhánh qu ận G – Phòng giao dịch Quận Y với nội dung c ụ th ể nh ư sau : bà Tr ần Th ị Hồng P vay của VIB s ố ti ền 300.000.000 (Ba tr ăm tri ệu đồng); Mục đích vay vốn: Sửa ch ữa và mua sắm trang thiết bị cho căn nhà tại thửa đất số 538, tờ bản đồ số 35, xã P, huyện C, TP.HCM; Th ời hạn vay: 120 tháng k ể từ kho ản vay được giải ngân; Lãi su ất vay: 8.8%/n ăm, Lãi su ất này là lãi su ất ưu đãi và ch ỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày khoản vay được giải ngân. Hết thời hạn ưu đãi, lãi suất được điều chỉnh lại theo quy định của VIB tại thời điểm điều chỉnh và sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần, bằng lãi suất cơ sở cộng 3,99%/năm, phù hợp với các quy định của pháp luật, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính sách của VIB tại từng th ời kỳ; Tr ả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 22 (m ỗi tháng 2.500.000 đồng); Tr ả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 22
. Ngày tr ả nợ đầu ti ên ngày 22/02/2017.
- Ngày 29/03/2017, bà Tr ần Th ị Hồng P ký với VIB Chi nhánh qu ận G – Phòng giao dịch Quận Y tại hợp đồng tín dụng số: 0033.HĐTD.VIB630.17, với nội dung c ụ th ể nh ư sau: Bà Tr ần Th ị Hồng P vay của VIB, vay s ố ti ền 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng); Mục đích vay vốn: Tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 96 tháng k ể từ khoản vay được giải ngân; Lãi suất vay: 11.19%/năm, Lãi suất này sẽ được VIB chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần, bằng lãi suất cơ sở cộng 3,69%/năm, phù hợp với các quy định của pháp lu ật, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính sách c ủa VIB tại từng thời kỳ; Trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 22 (m ỗi tháng 3.330.000 đồng); Trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 22. Ngày trả nợ đầu tiên ngày 22/05/2017.
- Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 538, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện C, Thành ph ố Hồ Chí Minh theo gi ấy chứng nh ận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nh à ở và tài s ản khác g ắn li ền với đất số vào sổ cấp GCN: CS03591 do Sở Tài nguyên và Môi tr ường Thành phố Hồ Chí Minh c ấp ngày 21/12/2016 cho bà Trần Thị Hồng P và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá tr ị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất. Tài sản này đã thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0004.HĐTC.VIB630.17, số công chứng: 000401; quyển số: 01/ TP/CC-SCC/HĐGD, do Phòng công ch ứng C công ch ứng ngày 09/01/2017 . Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Nay, Ngân hàng TMCP Q yêu cầu bà Tr ần Th ị Hồng P và ông Nguyễn
Khánh T7 trả số tiền (tạm tính đến ngày 24/5/2021) là: 975.547.756 đồng (Bằng chữ: Chín trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi sáu đồng), bà P đồng ý trả cho VIB nhưng cho bà P thời hạn để bà P bán mảnh đất đang thế ch ấp cho VIB, v ì gia đình không đủ kh ả năng chi tr ả cho ngân hàng. Bà muốn bán càng sớm càng tốt vì để lâu lãi suất càng nhiều.
* Tại các b ản khai, bi ên bản làm vi ệc, bi ên bản phiên họp ki ểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn là bà Lê Thị G trình bày:
Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn cần tiền trang trải, qua sự quen biết và giới
thiệu bà được biết ông Nguyễn Anh D, ngụ tại 1/195 khu phố Thanh Bình A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh có cho vay ti ền. Nên ngày 15/08/2011, bà G và ông D đã xác lập giấy vay tiền với số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu) đồng với lãi suất 4%/01 tháng, thực tế ông D chỉ đưa bà 172.000.000 (Một trăm bảy mươi hai triệu) đồng, trong đó đã trừ đi tiền lãi tháng đầu tiên là 8.000.000 (Tám trieeuj0 đồng và phí dịch vụ 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Để đảm bảo ngh ĩa vụ tr ả nợ th ì 15/8/2011, gi ữa bà G và ông D đã xác l ập hợp đồng chuyển nh ượng QSD Đ số: 005966 H Đ-CNQSDĐ, quy ển số: 03TP/CC - SCC/HĐGD đối với phần đất có diện tích 508,1m2 thuộc thửa số 35, tọa lạc tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (bản chính giấy chứng nhận ông D cất giữ).
Sau khi vay tiền bà G đã trả lãi suất cho ông D số tiền là 8.000.000 (Tám
triệu) đồng. Tuy nhiên đến khoảng tháng 11/2011, thì bà G không còn khả năng trả lãi suất cho ông D. Ngoài ra, tuy là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng trên th ực tế trên đất có 02 căn nhà cấp 4 do v ợ chồng bà xây dựng gồm:
1/ Căn nhà thứ nhất: nhà cấp 4 diện tích ngang 04m chiều dài 17m trong đó
có bà G và ông Huỳnh Văn V còn lại đã có gia đình ở riêng nhưng hộ khẩu vẫn còn.
2/ Căn nhà th ứ hai: Nh à cấp 4, di ện tích ngang 04m, ch iều dài 17m trong
đó có người con ruột là Huỳnh Văn Q, dâu là Võ Thị Thu L và 03 cháu ruột sinh sống.
Trước đây bà P và bà G đã thỏa thuận, bà P lấy 4m ngang đất của thửa
538 còn l ại trả cho bà G nhưng sau đó bà P lại đổi ý kh ởi kiện bà. Bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P vì bà G không bán đất cho ông D, ông D bán đất cho b à P thì bà G không được bi ết, bà P trình bày là gia đình bà G xin ở nhờ là không đúng sự thật. Bà vay tiền của ông D thì bà đồng ý sẽ tiền gốc và lãi cho ông D.
Bà thắc mắc chỉ bán cho ông D diện tích 508,1m2 thuộc thửa 538 tờ bản đồ
số 35 nhưng nay bà P lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 538 với diện tích là 628,7m2. Tại phiên Tòa, bà G không đồng ý nhận tiền hỗ trợ của bà P với số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng. Bà G đồng ý giao cho b à P phần đất trống ngang 4 mét dài hết đất.
* Đối với yêu cầu độc lập của ngân hàng TMCP Q buộc bà Trần Thị Hồng
P trả số tiền tạm tính đến 24/5/2021 là 975.547.756 đồng (Bằng chữ: Chín trăm bảy mươi lăm tri ệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn b ảy tr ăm năm mươi sáu đồng). Bà P vay thì bà P tự trả không liên quan gì đến bà.
* Tại phiên Tòa, Bà G không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của bà P
và bà G cũng không khởi kiện Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà G và ông D.
* Tại bản khai, bi ên bản làm việc, biên bản phiên họp kiểm tra vi ệc
giao nộp, tiếp cận, công khai ch ứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quy ền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguy ễn Anh D và vợ là bà Nguyễn Thụy T A cùng thống nhất trình bày:
Vào năm 2011, vợ chồng ông D có mua của bà Lê Thị G một phần đất có
diện tích 508,1m 2, tờ bản đồ số 35, thu ộc thửa đất số 538, bộ địa chính xã P, huyện C theo giấy chứng nhận QSDĐ số: AN.147073 v ào sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00711/07 do UBND huyện C cấp ngày 15/7/2008 đăng kí thay đổi ngày 02/10/2008, ông D mua với giá 200.000.000 đ (hai trăm triệu) đồng được công ch ứng số hợp đồng 005966, quy ển số: 3, công ch ứng ng ày 15/08/2011 tại Văn phòng công chứng C, địa chỉ: Số 738, Khu phố 2, Q lộ 22, Thị trấn Củ Chi. Vi ệc mua bán v ới vợ chồng ông D và bà G là hợp pháp, ông D đã giao ti ền đầy đủ và bà G đã giao bản chính gi ấy chứng nh ận quyền sử dụng đất để ông D đi làm thủ tục sang tên cho ông D. Sau khi ông được đứng tên, vợ ch ồng ông D không có nhu c ầu nên ông D bán lại cho b à Tr ần Th ị Hồng P. Việc ông D cho bà G ở lại trên phần đất của ông D vì ông D thấy bà G có hoàn c ảnh khó kh ăn và bà G cũng xin ông D cho bà G ở nhờ tại căn nhà trên phần đất. Khi nào ông D bán phần đất nói tr ên bà G phải dọn ra khỏi nhà và đất. Khi vợ chồng ông D bán mảnh đất cho bà P, ông D có nói bà G dọn ra giao nhà đất lại cho b à P thì bà G đồng ý nên ông D mới bán cho b à P. Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp lu ật.
* Tại các b ản kha i, biên bản làm vi ệc, bi ên bản phiên họp ki ểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn Q và là bà V Thị Thu L cùng là người giám hộ của cháu Huỳnh Thái T2, Huỳnh Q T và cháu Huỳnh Võ Tú C cùng thống nhất trình bày:
Ông Huỳnh Văn Q là con của ông Hu ỳnh Văn Lường và bà Lê Th ị G. Về
huyết thống trong gia đình, nguồn gốc thửa đất 538 ông thống nhất lời trình bày của bà Lê Thị G. Trên thửa đất đang tranh chấp, ông Q cùng vợ là bà V Thị Thu L và 03 con đang sinh sống trên phần đất có căn nhà cấp 4.
Năm 2011, vì gia đình khó kh ăn nên mẹ ông đã vay mượn ti ền của ông
Nguyễn Anh D và để làm tin mẹ ông đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nay bà P yêu cầu trả lại nhà đất ông không đồng ý vì bà mẹ ông không bán đất cho ông D hay bà P.
Ông yêu cầu Tòa làm rõ phần đất mặt đường 08 mét ngang, dài là 14 mét 7,
cha mẹ ông là ông Lường, bà G đã trao đổi cùng với ông Sáng, bà Ngỡ theo đó, gia đình ông lấy phần đất mặt đường này, còn ông Sáng, bà Ng ỡ lấy phần đất phía sau. Hai bên có giao kèo là khi nào nhà n ước cho tách th ửa thì hai bên s ẽ đưa giấy ra tách th ửa, trong khi ch ờ nhà nước tách th ửa, giấy trao đổi mẹ ông còn giữ mà tại sao bà P lại làm giấy tờ cả phần đất mặt đường này.
* Người có quy ền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Huỳnh Hữu T3, bà
Huỳnh Ngọc T6, bà Huỳnh Thị Tuyền, ông Huỳnh Văn H1, ông Huỳnh Văn T5, bà Huỳnh Thị L2, bà Huỳnh Thị S1, ông Huỳnh Văn S và bà Huỳnh Thị H2 cùng thống nhất trình bày:
Các ông bà là con của bà Trần Thị Ng, vào năm 2009, ba của các ông bà là
ông Huỳnh Văn Sáng cùng em trai Hu ỳnh Văn Lường có thỏa thuận và trao đổi thửa đất 537 của bà Lê Th ị G để làm lối đi chung cho gia đình ông Huỳnh Văn Lường và bà Lê Th ị G nhưng thực tế bà Lê Thị G không làm đúng theo gi ấy cam kết, không giao th ửa đất 537 cho gia đình ông mà tự ý đem bán một phần đất cho ai gia đình ông không biết đến năm 2016, bà G dẫn bà P đến nhà gặp bà Ngỡ để thỏa thuận bán một phần đất có di ện tích 120m2, tr ước nhà của bà Lê Thị G để bà P có lối đi. Ông có hỏi bà G còn giấy cam kết thì sau bà G trả lời “bà G xé bỏ bản chính gi ấy cam kết xem nh ư hủy bỏ” do đó gia đình ông mới làm thủ tục chuyển nhượng cho bà P là đúng, bà P cam kết trả lại đường nước cho gia đình ông như hiện trạng ban đầu. Khi hai bên tiến hành thì bà G cản trở. Do đó các ông bà đề nghị Tòa án gi ải quyết theo quy định pháp lu ật và không mời các ông bà tham gia tố tụng, các ông bà có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Tại các bản khai, bi ên bản làm việc, biên bản phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quy ền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu c ầu độc lập Ngân hàng TMCP Q có ông Trần Anh T trình bày:
Ngày 09/01/2017, VIB Chi nhánh qu ận G – Phòng giao dịch Quận Y ký
với bà Trần Thị Hồng P tại hợp đồng tín dụng số: 0004.HĐTD.VIB630.17, với nội dung cụ thể như sau: VIB cho bà Tr ần Thị Hồng P vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); Mục đích vay vốn: Sửa chữa và mua sắm trang thiết bị cho căn nhà tại thửa đất số 538, tờ bản đồ số 35, xã P, huyện C, TP.HCM; Thời hạn vay: 120 tháng k ể từ kho ản vay được gi ải ngân; L ãi su ất vay: 8.8%/năm, Lãi suất này là lãi su ất ưu đãi và ch ỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày khoản vay được giải ngân. Hết thời hạn ưu đãi, lãi suất được điều chỉnh lại theo quy định của VIB tại thời điểm điều chỉnh và sẽ được điều chỉnh 03 tháng/l ần, bằng lãi suất cơ sở cộng 3,99%/năm, phù hợp với các quy định của pháp lu ật, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính sách c ủa VIB tại từng thời kỳ; Trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 22 (m ỗi tháng 2.500.000 đồng); Trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 22. Ngày trả nợ đầu tiên ngày 22/02/2017.
- Ngày 29/03/2017, VIB Chi nhánh qu ận G – Phòng giao dịch Quận Y ký
với bà Trần Thị Hồng P tại hợp đồng tín dụng số: 0033.HĐTD.VIB630.17, với nội dung cụ thể như sau: VIB cho bà Tr ần Thị Hồng P vay số tiền 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng); Mục đích vay vốn: Tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình; Thời hạn vay: 96 tháng kể từ khoản vay được giải ngân; Lãi suất vay: 11.19%/năm, Lãi suất này sẽ được VIB chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần, bằng lãi suất cơ sở cộng 3,69%/năm, phù hợp với các quy định của pháp luật, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính sách của VIB tại từng thời kỳ; Trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 22 (m ỗi tháng 3.330.000 đồng); Trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 22. Ngày trả nợ đầu tiên ngày 22/05/2017.
- Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất tại thửa đất số 538, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo gi ấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nh à ở và tài s ản khác g ắn li ền với đất số vào sổ cấp GCN: CS03591 do Sở Tài nguyên và Môi tr ường Thành phố Hồ Chí Minh c ấp ngày 21/12/2016 cho bà Trần Thị Hồng P và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá tr ị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất. Tài sản này đã thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0004.HĐTC.VIB630.17, số công chứng 000401; quy ển số 01/ TP/CC-SCC/HĐGD, do Phòng công ch ứng C công ch ứng ngày 09/01/2017 . Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật..
1. Quá trình thực hiện hợp đồng, đôn đốc thu hồi nợ:
- Ngày 15/04/2017 VIB đã giải ngân cho bà Trần Thị Hồng P, ông Nguyễn
Khánh T7 theo Kh ế ước nh ận nợ số 0033.KUNN.VIB630.17 v ới số ti ền 320.000.000 (Ba trăm hai mươi triệu) đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng số 0033.HĐTD.VIB630.17 ngày 29/03/2017.
- Ngày 11/01/2011, VIB đã giải ngân cho bà Trần Thị Hồng P, ông Nguyễn
Khánh T7 theo Khế ước nh ận nợ số 0004.KUNN.VIB630.17 với số ti ền 300.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng số 0004.HĐTD.VIB630.17 ngày 09/01/2017
- Quá trình th ực hiện hợp đồng bà Trần Thị Hồng P, ông Nguyễn Khánh
T7 đã thanh toán cho VIB, t ổng cộng: 70.408.064 (Bảy mươi triệu bốn trăm lẻ tám nghìn không trăm sáu mươi bốn) đồng, trong đó:
Tổng
Hợp đồng tín dụng
Nợ gốc
Nợ lãi
cộng
0004.HĐTD.VIB6
38.102.9
20.000.048
18.102.944 30.17
0033.HĐTD.VIB6
32.305.0
16.650.010
15.655.062 30.17
72
70.408.0
Tổng cộng:
36.650.058
33.758.006
64
- Kể từ ngày 23/10/2017 bà Trần Thị Hồng P, ông Nguyễn Khánh T7 đã vi
phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh do đó VIB đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của khách hàng sang nợ quá hạn.
- Trong quá trình gi ải quyết vụ việc, VIB đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều
lần để bà Tr ần Th ị Hồng P, ông Nguyễn Khánh T7 thanh toán nợ vay. Tuy nhiên, bà Trần Thị Hồng P, ông Nguyễn Khánh T7 vẫn cố tình vi phạm, không thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật.
1. Yêu cầu của VIB:
Buộc bà Trần Thị Hồng P, ông Nguyễn Khánh T7 trả ngay cho Ngân hàng
TMCP Q số tiền (t ạm tính đến ngày 24/5/2021) là : 975.547.756 đồng (B ằng chữ: Chín trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi sáu đồng), thông tin dư nợ của từng Hợp đồng tín dụng như sau:
Tổng hợp chung dư nợ của các Hợp đồng tín dụng: (đơn vị tính: Đồng)
Nợ gốc còn
Nợ lãi quá
Hợp đồng tín dụng
Nợ lãi
Tổng cộng
lại
hạn
0004.HĐTD.VIB630.17
279.999.952 1.382.457 188.410.735 469.793.144
ngày 09/01/2017
0033.HĐTD.VIB630.17
303.349.990 1.926.513 200.478.109 505.754.612
ngày 29/03/2017
Tổng cộng:
583.349.942 3.308.970 388.888.845 975.547.756
Đề nghị Quý Tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 25/5/2021 cho đến
khi bà Trần Thị Hồng P, ông Nguyễn Khánh T7 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Trong trường hợp bà Tr ần Thị Hồng P, ông Nguyễn Khánh T7 không trả
nợ hoặc trả không hết nợ thì Ngân hàng TMCP Q được quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục kê biên, phát mãi tài s ản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 538, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh theo gi ấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 130097, s ố vào sổ cấp GCN: CS03591 do S ở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh c ấp ngày 21/12/2016 cho bà Tr ần Thị Hồng P và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và ph ần giá tr ị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0004.HĐTC.VIB630.17, số công chứng 000401; quy ển số: 01/ TP/CC -SCC/HĐGD, do Phòng công ch ứng C công chứng ngày 09/01/2017. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý t ài sản đảm bảo được dùng để
thanh toán ngh ĩa vụ trả nợ cho bà Trần Thị Hồng P với Ngân hàng TMCP Q tế Việt Nam. Tr ường hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán h ết kho ản nợ th ì bà Tr ần Th ị Hồng P vẫn ph ải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q Việt Nam.
* Ng ười có quy ền lợi, ngh ĩa vụ li ên quan ông Nguyễn Khánh T7 trình
bày: Qua yêu cầu khởi kiện của ngân hàng VIB, khởi kiện bà P và ông Toàn yêu cầu vợ ch ồng ông To àn ph ải tr ả số tiền (t ạm tính đến này 24/5/2021) là 975.547.756 đồng (Bằng chữ: Chín trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi sáu đồng), ông Toàn đồng ý trả và thống nhất với trình bày của bà P.
Bản án dân s ự sơ thẩm số 212/2021/DS-ST ngày 26/5/2021 của Tòa án
nhân dân Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Hồng P.
Buộc bà Lê Th ị G, ông Hu ỳnh Văn T1, ông Hu ỳnh Văn V, ông Hu ỳnh
Văn H, ông Huỳnh Văn Q, bà Võ Th ị Thu L, cháu Huỳnh Văn L1 (người giám hộ là ông Hu ỳnh Văn H và bà Lê Th ị G), cháu Huỳnh Thái T2 , cháu Hu ỳnh Q T, cháu Huỳnh Võ Tú C (người giám hộ là bà Võ Thị Thu L và ông Huỳnh Văn Q) phải di dời và giao tr ả lại nhà - đất cho bà Trần Thị Hồng P phần đất diện tích 628.7m2, thuộc thửa đất số: 538, tờ bản đồ số 35, xã P, huyện C, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 130097, v ào sổ cấp GCN số: CS 03591 do S ở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh c ấp cho bà Trần Thị Hồng P ngày 21/12/2016 để bà P quản lý sử dụng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Hồng P hỗ trợ cho gia đình bà Lê
Thị G số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) để gia đình bà G di dời và giao trả lại nhà và đất cho bà P.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tế
Việt Nam.
Buộc bà Tr ần Th ị Hồng P và ông Nguyễn Khánh T7 phải thanh toán
cho Ngân hàng Th ương mại cổ phần Q tế Việt Nam (ti ền gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/5/2021) s ố tiền 975.547.756 đồng (chín trăm bảy mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 583.349.942 đồng (năm trăm tám mươi ba tri ệu ba tr ăm bốn mươi chín nghìn chín tr ăm bốn mươi hai đồng), nợ lãi 3.308.970 đ (ba tri ệu ba tr ăm lẽ tám ngh ìn chín trăm bảy mươi đồng), nợ lãi quá hạn 388.888.845 đồng (ba trăm tám m ươi tám tri ệu tám tr ăm tám m ươi tám nghìn tám tr ăm bốn mươi lăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hi ệu lực pháp lu ật, đồng thời có đơn yêu cầu thi
hành án c ủa Ngân h àng Th ương mại cổ ph ần Q tế Vi ệt Nam n ếu bà P, ông Toàn ch ưa tr ả số ti ền nêu trên thì hàng tháng ph ải ch ịu lãi su ất ch ậm thanh toán theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi trả xong nợ.
Nếu bà Trần Thị Hồng P và ông Nguyễn Khánh T7 không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán theo đúng thời hạn nêu trên, Ngân hàng được quyền đề nghị Cơ quan có th ẩm quyền làm thủ tục kê biên, phát mãi tài s ản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 538, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp GCN: CS03591 do S ở Tài nguyên và Môi tr ường Thành phố Hồ Chí Minh c ấp ngày 21/12/2016 cho bà Tr ần Thị Hồng P để thu hồi nợ.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/5/2021, bị đơn bà Lê Th ị G, kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 212/2021/DS-ST ngày 26/5/2021 của Tòa án nhân dân Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Tr ần Thị Hồng P không rút đơn khởi kiện, người kháng
cáo bà Lê Thị G không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Đoàn Thị Thiên Thanh Thu: Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai mối quan hệ tranh chấp, hợp đồng chuyển nhượng ngày 15/8/2011 là hợp đồng giả cách đây là hợp đồng vay tài sản . Đề nghị Tòa án hủy án sơ thẩm.
- Người đại diện của nguyên đơn bà Võ thị Thu L trình bày: thống nhất với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
- Người đại diện của nguyên đơn ông Bùi Văn K1 yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người có quy ền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Q yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Th ành phố Hồ Chí Minh phát bi ểu ý
kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm Phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều chấp hành và tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc th ẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên c ứu các tài liệu, chứng cứ có trong h ồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng: Ngày 26/5/2021 Tòa án nhân dân Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Ngày 26/5/2021, bị đơn bà Lê Thị G làm đơn kháng cáo trong hạn luật định và đã làm th ủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
2. Về nội dung:
Xét nội dung kháng cáo của bà G và trình bày của người đại diện theo ủy quyền của G về yêu cầu hủy bản án sơ thẩm theo hướng không ch ấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ bị đơn bà G đưa ra việc bà G không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguy ễn Anh D đối với thửa đất có di ện tích 508,1m2 thuộc thửa số 35, tọa lạc tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, mà chỉ là vay tiền của ông D. Hợp đồng chuy ển nh ượng QSD Đ số: 005966 H Đ-CNQSDĐ, quy ển số: 03TP/CC-SCC/HĐGD do ông D yêu cầu bà ký kết để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, là giả tạo nên vô hiệu. Căn cứ và chứng cứ phía bị đơn đưa ra để chứng minh hợp đồng chuyển nhượng là giả tạo, che dấu giao dịch thực sự việc vay ti ền là giấy nhận tiền lãi 8.000.000 (Tám triệu) đồng ngày 15/3/2011; ngoài ra, trên th ực tế trên đất có 02 (hai) căn nhà, tuy nhiên theo Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số: 005966 HĐ-CNQSDĐ, quy ển số: 03TP/CC -SCC/HĐGD th ì ghi nh ận chuy ển nhượng đất trống, không đúng với thực tế.
Hội đồng xét xử xét thấy,
Căn cứ và ch ứng cứ phía b ị đơn đưa ra để ch ứng minh h ợp đồng chuyển nhượng là giả tạo, che dấu giao dịch thực sự việc vay ti ền là giấy nhận tiền lãi 8.000.000 (Tám triệu) đồng ngày 15/3/2011; ngoài ra, trên thực tế trên đất có 02 (hai) căn nhà, tuy nhiên theo H ợp đồng thì ghi nh ận chuyển nhượng đất trống, không đúng với thực tế.
Xem xét ch ứng cứ phía bị đơn đưa ra cho r ằng đây là giấy ông Nguy ễn Anh D nhận tiền lãi 8.000.000 (Tám triệu) đồng ngày 15/3/2011. Nội dung gi ấy ghi nh ận "Hôm nay ngày 15/3/2011. Tôi Ph có nhận của ch ị G số ti ền là 8000.000 (tám triệu chẵn). Người nhận (chữ ký) Hu ỳnh Phi Ph". Phía bà G cho biết Huỳnh Phi Ph là người làm chứng và không biết người này là ai
Xét th ấy trong n ội dung ch ứng cứ không ghi nh ận ti ền nh ận là ti ền gì, người nhận tiền là Huỳnh Phi Ph không phải là ông Nguyễn Anh D là người mà bà G cho rằng đã cho bà vay tiền và nhận tiền lãi; phía bà G cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh mối quan hệ giữa người có tên là Hu ỳnh Phi Ph và ông D hoặc Huỳnh Phi Ph nhận tiền thay cho ông D. Vì vậy, không có cơ sở xác định tài liệu bà G cung cấp là chứng cứ chứng minh ông D cho vay tiền và nhận tiền lãi.
Ngoài ra, lời khai của bà P phù hợp với lời khai của người có quy ền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hữu T3 xác định năm 2016, bà G có dẫn bà P đến gặp bà Ngộ để thỏa thuận bà Ngộ bán một phần đất có di ện tích 120 m2, trước nhà của bà Lê Thị G để bà P có lối đi và gia đình đã làm thủ tục chuyển nhượng cho bà P. Chứng cứ này cho thấy thực tế bà G biết việc bà P nhận chuyển nhượng lại thửa đất bà G đã chuyển nhượng cho ông D, không có ý ki ến gì và còn giúp cho bà P mua lối đi vào đất đã chuyển nhượng và giao dịch này đã hoàn thành. Chứng cứ này cũng trả lời cho ý ki ến của bà G tại sao ch ỉ bán cho ông D diện tích 508,1 m2 thuộc th ửa 538 t ờ bản đồ số 35 nh ưng bà P lại được cấp Gi ấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 538 với diện tích là 628,7m2.
Về ý kiến của bị đơn bà G cho rằng trên thực tế trên đất có 02 căn nhà, tuy nhiên theo Hợp đồng chuyển nh ượng QSDĐ số: 005966 HĐ-CNQSDĐ, quyển số: 03TP/CC -SCC/HĐGD th ì ghi nh ận đối tượng chuyển nh ượng là quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất, không đúng với thực tế. Hội đồng xét xử xem xét Gi ấy ch ứng nh ận quy ền sử dụng đất vào sở ch ứng nh ận số H00711/07, do UBND huyện C cấp ngày 15/7/2008, trên giấy không thể hiện có tài sản gắn liền với đất. Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi ngày 02/10/2008, ghi nhận thửa 558 được tách ra thành thửa 541, được cấp mới giấy chứng nhận cho diện tích 278,9 m2 chuyển nhượng cho bà Lê Th ị Y, nên di ện tích còn lại 508,1 m2 được chuyển nhượng toàn bộ cho ông D. Hợp đồng chuyển nhượng ghi đúng theo nội dung gi ấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. tuy không th ể hiện 02 (hai) căn nhà theo lời khai của bà G là nhà cấp 4 (bốn) của bà G nhưng như đã phân tích ở trên, về ý chí chủ quan của bà G thể hiện bà G chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông D.
Tại phiên tòa phúc th ẩm hôm nay, phía b ị đơn bà G có nộp sổ hồng nhưng cũng không ch ứng minh g ì về ph ần di ện tích có li ên quan gì đến ph ần tranh ch ấp của nguyên đơn, phía bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu c ầu của mình. Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của bà G là không có cơ sở để chấp nhận. Do kháng cáo của bà G không được chấp nhận đó, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí phúc th ẩm: Do kháng cáo c ủa bà G không được chấp nhận và bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên ng ười kháng cáo ph ải chịu án phí phúc th ẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên bà G là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm tiền án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Khoản 2, khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm
c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 146, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 133, 320, 321, 465, 466, 468, 651 c ủa Bộ luật Dân sự
- Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của
Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Điều 12 v à Điều 27 c ủa Ngh ị quy ết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
1. Không ch ấp nhận kháng cáo c ủa bà Lê Th ị G. Giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm số 212/2021/DS-ST ngày 26/5/2021 của Tòa án nhân dân Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh
Tuyên xử
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Hồng P.
Buộc bà Lê Th ị G, ông Hu ỳnh Văn T1, ông Hu ỳnh Văn V, ông Hu ỳnh Văn H, ông Hu ỳnh Văn Q, bà Võ Th ị Thu L, cháu Hu ỳnh Văn L1 (người giám hộ là ông Huỳnh Văn H và bà Lê Thị G), cháu Huỳnh Thái T2, cháu Huỳnh Q T, cháu Huỳnh Võ Tú C (người giám hộ là bà Võ Thị Thu L và ông Huỳnh Văn Q) phải di dời và giao tr ả lại nhà - đất cho bà Trần Thị Hồng P phần đất diện tích 628.7 m2, thuộc thửa đất số: 538, tờ bản đồ số 35, xã P, huyện C, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 130097, vào s ổ cấp GCN s ố: CS 03591 do S ở Tài nguyên và Môi tr ường Thành phố Hồ Chí Minh c ấp cho bà Trần Thị Hồng P ngày 21/12/2016 để bà P quản lý sử dụng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Hồng P hỗ trợ cho gia đình bà Lê
Thị G số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) để gia đình bà G di dời và giao trả lại nhà và đất cho bà P.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tế Việt Nam.
Buộc bà Trần Thị Hồng P và ông Nguyễn Khánh T7 phải thanh toán cho
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tế Việt Nam (tiền gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/5/2021) số ti ền 975.547.756 đồng (chín tr ăm bảy mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi bảy ngh ìn bảy tr ăm năm mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 583.349.942 đồng (năm tr ăm tám mươi ba tri ệu ba tr ăm bốn mươi chín ngh ìn chín trăm bốn mươi hai đồng), nợ lãi 3.308.970 đồng (ba tri ệu ba tr ăm lẻ tám nghìn chín trăm bảy mươi đồng), nợ lãi quá hạn 388.888.845 đồng (ba trăm tám mươi tám triệu tám trăm tám mươi tám nghìn tám trăm bốn mươi lăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tế Việt Nam nếu bà P, ông Toàn chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thanh toán theo quiđịnh tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 chođến khi trả xong nợ.
Nếu bà Trần Thị Hồng P và ông Nguyễn Khánh T7 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng thời hạn nêu trên, Ngân hàng được quyền đề nghị Cơ quan có th ẩm quyền làm thủ tục kê biên, phát mãi tài s ản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 538, tờ bản đồ số 35, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp GCN: CS03591 do S ở Tài nguyên và Môi tr ường Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/12/2016 cho bà Trần Thị Hồng P để thu hồi nợ.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Lê Thị G là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Trần Thị Hồng P và ông Nguyễn Khánh T7 phải chịu án phí dân s ự sơ th ẩm là 41.266.433 đồng (bốn mươi mốt triệu hai tr ăm sáu mươi sáu ngh ìn bốn trăm ba mươi ba đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba tr ăm nghìn đồng) bà P đã nộp theo bi ên lai thu ti ền tạm ứng án phí s ố: 00013762 ngày 11/4/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C. Bà P và ông Toàn còn ph ải nộp 40.966.4 33 đồng (Bốn mươi triệu chín tr ăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi ba đồng).
- Hoàn tr ả lại Ngân h àng Th ương mại cổ ph ần Q tế Vi ệt Nam s ố ti ền 18.010.980 đồng (mười tám tri ệu không tr ăm mười ngh ìn chín tr ăm tám mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0022925 ngày 07/11/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Lê Thị G được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quy ền th ỏa thu ận thi h ành án, quy ền yêu cầu thi h ành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Lu ật thi hành án dân s ự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TAND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Thị Tú Oanh |