- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ong Thị Bích N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ong Thị Bích N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 743/2024/HS-PT Ngày: 27 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh
Ông Phan Tô Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm lưu động công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 500/2024/TLPT- HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Ong Thị Bích N, do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cáo có kháng cáo: Ong Thị Bích N, sinh ngày 28/10/1988 tại huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là Ong Văn K, sinh năm 1960 và mẹ là Quách Thị T, sinh năm 1960; có chồng tên Dương Thanh S, sinh năm 1992; có 01 người con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Phước H là Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, (có mặt).
Trong vụ án có nhiều bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì muốn có tiền chi xài cho nhu cầu cá nhân nên bị cáo lợi dụng lòng tin của các hụi viên, dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra các thông tin không đúng sự thật để cho các hụi viên tham gia chơi hụi giao tiền cho bị cáo, bị cáo hốt hụi của các tên hụi viên khống, hốt hụi của những người tham gia chơi thật nhưng không chung hụi và bán hụi khống cho các hụi viên để chiếm đoạt tiền của các hụi viên, trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến tháng 6/2022 bị cáo đã chiếm đoạt của 144 người với tổng số tiền 15.370.180.000 đồng (Mười lăm tỷ, ba trăm bảy mươi triệu, một trăm tám mươi ngàn đồng), trong đó số tiền hụi viên tham gia chơi trong các dây hụi là 12.316.540.000 đồng (Mười hai tỷ, ba trăm mười sáu triệu, năm trăm bốn mươi ngàn đồng), tiền bán hụi khống cho các hụi viên là 3.053.640.000 đồng (Ba tỷ, không trăm năm mươi ba triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Ong Thị Bích N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
3. Xử phạt bị cáo Ong Thị Bích N 19 (Mười chín) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 15/11/2022.
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Ong Thị Bích N có trách nhiệm giao trả cho các bị hại tổng số tiền chiếm đoạt sau khi đã trừ tiền nợ hụi chết và bồi thường là 14.070.876.000 đồng cho các bị hại, có tuyên cụ thể số tiền của từng bị hại.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 03/5/2024, bị cáo Ong Thị Bích N có đơn kháng cáo, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt với lý do có nhiều hụi viên hốt hụi nhưng không góp tiền hụi chết nên bị cáo lập hụi khống để trả nợ, sau khi tuyên bố bể hụi bị cáo đã bán nhà để khắc phục một phần thiệt hại, tại phiên tòa có nhiều bị hại xin giảm án đối với bị cáo, hiện gia đình bị cáo khó khăn, con còn nhỏ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo và người bào chữa yêu cầu xem xét giảm án cho bị cáo vì bị cáo ăn năn hối cải, bán nhà và đất khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm án, gia đình bị cáo đang gặp khó khăn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định kháng nghị. Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng cáo, đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Ong Thị Bích N khai nhận phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và người liên quan nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vì muốn có tiền chi xài cho nhu cầu cá nhân cũng như trả tiền thay cho các hụi viên đã hốt hụi, bị cáo lợi dụng lòng tin của các hụi viên, dùng những thủ đoạn gian dối như đưa ra các thông tin không đúng sự thật để cho các hụi viên tham gia chơi hụi giao tiền cho bị cáo, bị cáo hốt hụi của các tên hụi viên khống, hốt hụi của những người tham gia chơi thật nhưng không chung hụi và bán hụi khống cho các hụi viên để chiếm đoạt tiền của các hụi viên. Trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến tháng 6/2022, bị cáo đã chiếm đoạt trong 05 dây hụi gồm hụi tuần, nữa tháng, 01 tháng, 02 tháng và 4 tháng của 144 người với tổng số tiền 15.370.180.000 đồng (Mười lăm tỷ, ba trăm bảy mươi triệu, một trăm tám mươi ngàn đồng), trong đó số tiền hụi viên tham gia chơi trong các dây hụi là 12.316.540.000 đồng (Mười hai tỷ, ba trăm mười sáu triệu, năm trăm bốn mươi ngàn đồng), tiền bán hụi khống cho các hụi viên là 3.053.640.000 đồng (Ba tỷ, không trăm năm mươi ba triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn đồng) là có xảy ra trên thực tế nên Bản án sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo là có căn cứ. Sau khi xét xử, bị cáo và bị hại không có kháng cáo về tội danh, điều luật áp dụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét kháng cáo của yêu cầu được giảm án của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những chiếm đoạt tiền của gần 150 bị hại mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương, số tiền chiếm đoạt rất lớn, gây bất bình trong xã hội nên cần xử lý nghiêm, Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 19 năm tù là có xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng như: Bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã bồi thường và tác động gia đình bồi thường khắc phục được một phần hậu quả, tại phiên toà có một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo nên không được chấp nhận mà chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là giữ nguyên án sơ thẩm.
Bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ong Thị Bích N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Tuyên xử:
1.Tuyên bố bị cáo Ong Thị Bích N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
3. Xử phạt bị cáo Ong Thị Bích N 19 (Mười chín) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 15/11/2022.
4. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND Tỉnh Bạc Liêu; - VKSND Tỉnh Bạc Liêu; - Cục THADS Tỉnh Bạc Liêu; - Công an Tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp Tỉnh Bạc Liêu; - Trại tạm giam Tỉnh Bạc Liêu; - Trại tạm giam Tỉnh Bạc Liêu; (Tống đạt cho bị cáo) - Lưu: HS, VP, 17bBDQK. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Tám |