vanban.org

Bản án 742/2021/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 02/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc P. II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2021/HSST ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội về hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc P phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 742/2021/HS-PT
Ngày: 02/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;

Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang và ông Hoàng Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 02/11/2021, tại Trụ sở Tòa án Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 603/2021/TLPT-HS ngày 03 tháng 8 năm 2021; Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc P; Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2021/HSST ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện S, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1969 và con bà Hoàng Thị H, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em, bị cáo thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; Có 02 con, đều sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt).

Vụ án còn có 01 bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11/2020, Lương Văn C và Nguyễn Ngọc P làm thuê cho anh Nghiêm Văn H và ăn ở tại nhà anh H. Cuối tháng 12/2020, anh Nguyễn Đức H thuê anh H tháo dỡ mái tôn, sắt của lò gạch chuyển vào kho của Hợp tác xã. Anh H bảo C và Ph đến lò gạch của Hợp tác xã Đức H làm công việc trên.

Quá trình làm việc tại đây, thấy kho Hợp tác xã không khoá cửa, không có ai bảo vệ trông coi tài sản nên C, Ph nảy sinh ý định trộm cắp sắt để mang bán lấy tiền. Khoảng 20 giờ ngày 15/01/2021, C và Ph đi bộ đến khu lò gạch Hợp tác xã sản xuất và kinh doanh tổng hợp Đức H lấy khoảng 30 thanh sắt hình hộp chữ nhật mang đến bán cho anh Lê Hữu Tr, sinh năm 1980, trú tại thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội. Sau khi cân được 340kg, thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội trả cho C, Ph số tiền là 2.400.000đ. C và Ph chia nhau, mỗi người cầm 1.200.000đ rồi đi về nhà anh H ngủ. Khoảng 20 giờ ngày 18/01/2021, C và Ph tiếp tục lấy khoảng 60 thanh sắt hình hộp chữ nhật mang đến bán cho thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội. Sau khi cân xong được 770kg, thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội trả cho C, Ph số tiền là 5.400.000đ. C và Ph chia nhau, mỗi người được 2.700.000đ. Ph trả nợ C 2.000.000đ, còn giữ lại 700.000đ.

Tại kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐ ngày 17/3/2021, của Hội đồng định giá tài sản huyện Sóc Sơn, kết luận: 98 thanh sắt hình hộp chữ nhật có kích thước chiều dài từ 6m đến 6,2m, chiều cao, chiều rộng là 3x6 cm, độ dày 1,4mm, tổng trọng lượng là 1.097kg, có tổng trị giá là: 8.227.500đ.

Đối với anh Lê Hữu Tr Dũng: Khi mua sắt của bị cáo C, Ph anh không biết tài sản do trộm cắp mà có. C và Ph không nói cho thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội biết nguồn gốc tài sản. Do vậy, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn không đủ căn cứ xử lý Trung về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với anh Nghiêm Văn H: Không biết việc C và Ph thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy, Cơ quan CSĐT - Công an huyện S không đề cập xử lý đối với anh H trong vụ án này.

Anh Nguyễn Văn T (Đại diện theo ủy quyền của Hợp tác xã sản xuất và kinh doanh tổng hợp Đức H) khai: Hợp tác xã đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Ngày 25/4/2021, bị cáo C và Ph đã trả cho thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội 7.800.000đ tiền thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội thanh toán cho C và Ph khi mua sắt. Thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội không có yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho C và Ph.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị can phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ tang vật, lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 72/CT-VKS ngày 19/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố các bị cáo Lương Văn C và Nguyễn Ngọc P về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2021/HSST ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lương Văn C và bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1, Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt:

1. Bị cáo Lương Văn C 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Bị cáo Nguyễn Ngọc P 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/7/2021 bị cáo Nguyễn Ngọc P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Ngọc P giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, là lao động chính trong gia đình; vợ chồng bị cáo sống ly thân, bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ, bị cáo có bà ngoại được tăng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

- Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2021/HSST ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện S , Thành phố Hà Nội.

Bị cáo không tham gia tranh luận mà chỉ xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về tội danh:

Tối ngày 15/01/2021 và tối ngày 18/01/2021, tại thôn Y, xã B, huyện S, Hà Nội các bị cáo Lương Văn C và Nguyễn Ngọc P có hành vi trộm cắp 98 thanh sắt hình hộp chữ nhật, cân nặng 1.097kg, trị giá 8.227.500 đồng của Hợp tác xã sản xuất và kinh doanh tổng hợp Đức H.

Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xử các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt:

Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, vai trò đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 08 tháng tù là có căn cứ.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội với vai trò đồng phạm, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Trước lần phạm tội này bị cáo không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, là lao động chính trong gia đình; vợ chồng sống ly thân, hiện bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ, bị cáo có bà ngoại được tăng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng; bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc P.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2021/HSST ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Điều 65; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:

Nguyễn Ngọc P 08 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc P cho Uỷ ban nhân dân xã M, huyện S, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Ngọc P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ