| thµnh phè hµ néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| *********** |
B¶n ¸n sè: 74/2020/HNG§-ST Ngµy: 28/12/2020 "V/v: Tranh chÊp ly h«n"
Nh©n danh
Níc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn sãc s¬n - thµnh phè Hµ néi
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hồng.
- Các hội thẩm nhân dân: 1, ¤ng Nguyễn Đăng Hải
2, Bà Nguyễn Bích Liên
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Cán bộ
Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát
viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn
- thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 359/2020/TLST-HNGĐ ngày 09/07/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/QĐXX - ST ngày 20 tháng 11 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 24 ngày 11/12/2020 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Nh, sinh năm 1983;
HKTT và chỗ ở: Thôn Thanh Tr, xã Minh Ph, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội;;
2- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm: 1976; (tên khác: Nguyễn Hùng
Ph)
HKTT: Thanh N, Thanh Liêm, Hà Nam; Chỗ ở: Thôn Thanh Tr, xã Minh Ph, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Có mặt chị Nh, vắng mặt anh Ph.
Néi dung vô ¸n
Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 22/05/2020 và các lời khai tiếp theo, chị
Đào Thị Nh là nguyên đơn trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Ph trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự
do tìm hiểu. Anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 12/3/2004 tại UBND xã Thanh Ngh, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị được bố mẹ đẻ chị cho ở trên đất của ông bà tại thôn Thanh Tr, xã Minh Ph, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2019 thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân chính là anh Ph thường xuyên uống rượu về chửi mắng vợ con, không quan tâm đế vợ con, vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải mà ngày càng nghiêm trọng, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị xác định không còn tình cảm vợ chồng. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Ph.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Gia Th, sinh ngày:
19/10/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 15/01/2008. Hiện các cháu đang sống cùng anh chị, khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức, công nợ: không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
§èi víi bÞ ®¬n lµ anh Nguyễn Văn Ph:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các giấy triệu tập và các thông báo thụ lý,
mở phiên họp kiểm tra giao nộp chứng cứ và hoà giải nhưng anh Phong không đến Tòa làm việc và không cung cấp lời khai thể hiện quan điểm, nguyện vọng của anh nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các tài liệu tố tụng theo quy định của pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt anh.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng
mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân
sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Kể từ ngày nhận đơn, thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn Phong đã không chấp hành quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình:
- Về tình cảm: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị
Nh đối với anh Nguyễn Văn Ph.
- Về con chung: Giao cho chị Nh nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia Th, sinh ngày:
19/10/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 15/01/2008. Chị Nh tự đảm nhiệm việc nuôi con.
- Về tài sản chung, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, nợ chung, công sức
đóng góp: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NhËn ®Þnh cña toµ ¸n
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Đào Thị Nh khởi kiện yêu cầu Toà án giải
quyết việc ly hôn đối với anh Nguyễn Văn Ph - sinh năm 1976, hiện đang cư trú tại thôn Thanh Tr, xã Minh Ph, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, ngoài ra chị còn yêu cầu giải quyết về việc nuôi con chung, chị là người có quyền khởi kiện theo điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2015. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Việc Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý giải quyết là đúng quy định pháp luật về thẩm quyền theo cấp và theo lãnh thổ.
Đối với việc xét xử vắng mặt bị đơn, Toà án đã tiến niêm yết Thông báo thụ lý
vụ án, Thông báo về phiên kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cũng như các thủ tục tố tụng đối với anh Ph. Tuy nhiên, anh không đến Toà án làm việc. Tại phiên toà ngày 11/12/2020, anh Ph đã vắng mặt, không có lý do chính đáng. Phiên toà hôm nay, Tòa án đã tống đạt thủ tục hợp lệ nhưng anh Ph tiếp tục vắng mặt, HĐXX xét thấy việc tiến hành xét xử vắng mặt anh Ph là phù hợp với quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
-Về tình cảm: Chị Đào Thị Nh và anh Nguyễn Văn Ph kết hôn trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Ngh, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ngày 12/03/2004, vào sổ Đăng ký kết hôn số 08/2004. Tại Giấy chứng nhận kết hôn thể hiện anh Nguyễn Hùng Ph kết hôn với chị Đào Thị Nh, tuy nhiên qua xác minh tại xã Thanh Liêm và gia đình anh Ph cho thấy Nguyễn Hùng Ph là tên gọi khác của anh Nguyễn Văn Ph. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Đào Thị Nh, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Lời khai của chị Nh cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Sau khi
kết hôn, vợ chồng anh chị được bố mẹ đẻ chị cho ở trên đất của ông bà tại thôn Thanh Tr, xã Minh Ph, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2019 thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân chính là anh Ph thường xuyên uống rượu về chửi mắng vợ con, không quan tâm đế vợ con, vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Quá trình xác minh tại địa phương cho thấy anh Ph, chị Nh đã mâu thuẫn một thời gian dài, không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung của anh chị không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nh đối với anh Ph là phù hợp với thực tế của anh chị và phù hợp với quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2015.
-Về con chung: Xác nhận chị Nh và anh Ph có hai con chung là cháu Nguyễn
Gia Th, sinh ngày: 19/10/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 15/01/2008.
Chị Nh có nguyện vọng xin được nuôi con. HĐXX thấy rằng, các cháu phát
triển bình thường và có nguyện vọng được ở với mẹ, các cháu đã lớn nên cần tôn trọng nguyện vọng của các cháu. Hiện tại, các cháu vẫn sống ổn định nhà trên đất của bố mẹ đẻ chị Nh, ông bà cũng đồng ý cho chị Nh mảnh đất đó để ổn định cuộc sống sau này. Chị Nh có thu nhập ổn định để nuôi con. Anh Ph không tới Tòa án làm việc và trình bày lời khai thể hiện quan điểm, hiện tại anh cũng sống cùng gia chị Nh tại thửa đất bố mẹ chị cho riêng chị. Vì vậy, HĐXX thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con của chị Nhàn.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: HĐXX thấy rằng trách nhiệm cấp dưỡng
nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, chị Nh không yêu cầu anh Ph có trách nhiệm cấp dưỡng, thu nhập bình quân của chị trung bình từ 10.000.000đ – 12.000.000đ, có đủ khả năng để nuôi con. Vì vậy, HĐXX chấp nhận ý kiến của chị Nh và không buộc anh Ph phải cấp dưỡng nuôi con. Sau này, nếu các đương sự có yêu cầu về việc thay đổi nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Sau khi ly hôn, anh Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà
không ai được cản trở.
Về tài sản, vay nợ, công sức: Nguyên đơn là chị Nh không yêu cầu nên không
đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên.
quyÕt ®Þnh
C¨n cø c¸c §iÒu 51, 56, 81, 82 vµ 83 LuËt h«n nh©n gia ®×nh n¨m 2015;
C¨n cø §iÒu 147, 220,227,228, 271,273 Bé luËt tè tông d©n sù.
C¨n cø NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30.12.2016 cña Uû ban
thêng vô Quèc héi quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Toµ ¸n.
Xö:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đào Thị Nh. Cho chị Nh
được ly hôn anh Nguyễn Văn Ph.
2. VÒ con chung: X¸c nhËn anh chÞ cã hai con chung là cháu Nguyễn Gia Th,
sinh ngày: 19/10/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 15/01/2008. Giao cháu Th và cháu H cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
VÒ cÊp dìng nuôi con: C¸c ®¬ng sù kh«ng yªu cÇu nªn Héi ®ång xÐt xö kh«ng
®Æt ra gi¶i quyÕt trong vô ¸n nµy. Sau nµy c¸c ®¬ng sù cã yªu cÇu sÏ ®îc gi¶i quyÕt b»ng vô ¸n kh¸c.
Anh Ph có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được
cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp , đất ở và đất nông nghiệp
: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nh phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này
được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, biên lai số AA/2018/0018811 ngày 09/07/2020.
Án xử công khai, sơ thẩm. Chị Nh có quyền kháng cáo lên Toà án Hà Nội
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ph có quyền kháng cáo lên Tòa án Hà
Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Sóc Sơn; - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn; - TAND TP Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa Ngô Thị Hồng |