- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Chiến - chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Áp dụng khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2026/HS-ST Ngày: 12/5/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Hoàng Việt Thành
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đoàn Phương Thảo và bà Bùi Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51 /2026/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2026/QĐST-HS ngày 28/4/2026 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Văn C; tên gọi khác: không có; giới tính: nam; sinh ngày: 03/02/1979, tại phường V, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ B, khu B, phường V, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: số nhà B, ngõ B, đường T, phường M, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Vũ Văn C1 và bà Phạm Thị L (đã chết); có vợ là Hà Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú ” và “ Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên toà.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phòng C2 Công an tỉnh Q.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thành H – Trưởng Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q.
Người đại diện theo ủy quyền: anh Cao Xuân K – Phó đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số C3 Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh C2 (theo quyết định số 1641/QĐ-PC08 ngày 24/4/2026). Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người làm chứng: anh Cao Xuân K, Vũ Đình D và Hoàng Văn G. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 giờ ngày 23/10/2025, Tổ công tác số 17 thuộc Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số C3, Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh C2, gồm các đồng chí: Trung tá Cao Xuân K - tổ trưởng; Đại úy Vũ Đình D - tổ viên; Thượng úy Hoàng Văn G - tổ viên, Thực hiện kế hoạch số: 42/KHTTKS-Đ3 ngày 16/10/2025 của Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số C3, Phòng C2 Công an tỉnh Q, đã tiến hành lập chốt kiểm tra nồng độ cồn và ma túy trong cơ thể người điều khiển phương tiện cơ giới tại trước cửa xí nghiệp nước M trên đường N thuộc phường M, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 23/10/2025, Vũ Văn C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, biển số 30E-604.52, đi từ đường L đến đường N thì thấy chốt kiểm tra của Tổ công tác. Khi xe ô tô của C cách chốt khoảng 50 mét, đồng chí G ra hiệu lệnh dừng xe bằng gậy, còi, đèn pin để tiến hành kiểm tra theo quy định. Mặc dù nhìn thấy biển báo hiệu và hiệu lệnh dừng xe của đồng chí G, nhưng do trước đó C đã uống rượu, bia nên sợ nếu chấp hành việc kiểm tra nồng độ cồn sẽ bị xử phạt hành chính, nên C không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà vẫn điều khiển xe ô tô đi thẳng.
Lúc này, đồng chí K đứng phía trước, ra hiệu lệnh bằng còi và đèn yêu cầu dừng xe, nhưng C vẫn điều khiển xe ô tô đi thẳng khiến đồng chí K phải nhảy lên, bám trên nắp capo để tránh bị xe đâm trúng. Mặc dù thấy đồng chí K nằm trên nắp capo xe ô tô nhưng C vẫn tiếp tục điều khiển xe ô tô đi khoảng 100 mét thì đại úy Vũ Hồng D1 điều khiển xe ô tô tuần tra biển số 14A-018.74 vượt lên chặn đầu, khiến xe của C đâm vào đuôi xe ô tô tuần tra và dừng lại. Lúc này, đồng chí K, đồng chí D1 và đồng chí G dùng tay kéo C ra khỏi xe ô tô và khống chế C nằm ép xuống đường. Sau đó, C đứng dậy, nhưng do say rượu nên C loạng choạng và ngã đập mặt và người xuống mặt đường một lần nữa. Sau đó, Tổ công tác bàn giao Chiến và xe ô tô biển số 30E-604.52 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q. Tiến hành đo nồng độ cồn, kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của C là 0,211 miligam/01 lít khí thở (theo Phiếu đo nồng độ cồn số ID 858948 của Phòng C2 Công an tỉnh Q).
Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/10/2026 thể hiện: Hiện trường vụ án tại đường N thuộc phường M, tỉnh Quảng Ninh, mặt đường trải Asphalt, tương đối bằng phẳng, khô ráo. Đường được phân chia thành 02 chiều đường bằng vạch đứt quãng màu trắng rộng 0,15m, chiều đường hướng đi đường Đ rộng 3,45m, chiều đường hướng đi về hướng chợ T2 rộng 3,4m. Tiếp giáp với hai mép đường phía T là vỉa hè, tiếp đến là Trụ sở cơ quan hành chính nhà nước; tiếp giáp đường phía Đông là vỉa hè, tiếp đến là đồi, Doanh trại quân đội. Hiện trường được mô tả theo hướng chợ T2 M đi đường Đ (hướng từ Bắc về N), các số liệu được đo đến mép đường phía bên phải, mốc hiện trường được tính từ cột điện 18/DD2477-E57 trên vỉa hè bên trái, cách mép đường bên trái 1,3m. Các dấu vết còn lại tại hiện trường gồm: (1) biển báo hiệu bằng kim loại và bạt Hiflex nền trắng, kích thước 0,8x1,5m, trên hai mặt biển có chữ “CHỐT KIỂM TRA NỒNG ĐỘ CỒN, MA TÚY” màu đỏ, một mặt biển quay ngang so với mặt đường, đặt tại chiều đường phía bên phải, sát mép đường, cách mốc 7,2m. Cách vị trí biển báo về hướng đường Đ, chếch về bên trái 8,5m, trên vỉa hè có 02 bàn nhựa và 02 ghế nhựa được quay lại bằng cọc chắn inox và bảng phản quang. Cách vị trí biển báo hiệu về hướng đường Đ về phía bên phải 6,1m, giữa tâm đường có 03 cọc tiêu giao thông phản quang, mỗi cọc tiêu cách nhau 3,5m, tâm cọc tiêu cách mép đường bên phải 3,55m. (2) xe ô tô biển số 30E-604.52 đứng đỗ ở chiều đường phía bên phải, đầu xe quay hướng đi Đại lộ H, đuôi xe quay hướng đi chợ T2. T1 trục phía trước và sau bên phải của xe cách mép đường bên phải lần lượt là 1,65m và 1,60m, tâm trục phía sau bên phải của xe cách cọc tiêu giao thông gần nhất là 123,7m. (3) xe ô tô biển số 14A-018.74 sơn màu trắng, trên thân xe có chữ “CẢNH SÁT GIAO THÔNG” màu xanh, dừng đỗ ở chiều đường phía bên phải, đầu xe quay hướng đi đường Đ hơi chếch về phía bên phải, đuôi xe quay hướng chợ T2. T1 trục phía trước và sau bên phải của xe cách mép đường bên phải lần lượt là 1,65m và 2,15m và cách tâm trục phía trước bên phải xe ô tô biển số 30E-604.52 là 2,2m.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY màu bạc, biển số 30E-604.52; 01 thẻ nhớ chứa video cam hành trình của xe ô tô biển số 30E-604.52; 01 Giấy phép lái xe số 220085001264 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 12/03/2024 mang tên Vũ Văn C; 01giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 30E-604.52; giấy 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển số 30E-604.52; 01 Bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe ô tô biển số 30E-604.52 đều mang tên Chu Thị Thu Y. Tại Bản kết luận giám định số: 1968/KL-KTHS ngày 24/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận nội dung hình ảnh video sự việc trong camera hành trình thu giữ trên xe anh Vũ Văn C không bị cắt ghép chỉnh sửa. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 691/KLTTCT-TTPY ngày 19/11/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Q, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Vũ Văn C là 39% (ba mươi chín phần trăm). Các tổn thương cơ thể của anh Vũ Văn C do vật tày tác động trực tiếp gây nên. Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 32/KLTTCT-TTPY ngày 16/01/2026 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Q, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Vũ Văn C là 35% (ba mươi lăm phần trăm). Quá trình điều tra, bị can Vũ Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khai các thương tích trên cơ thể C là do quá trình bị bắt C đã bị trượt chân ngã đập mạnh hai lần mặt và người xuống đường. C khẳng định không bị ai đánh.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Cao Xuân K vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 23 tháng 10 năm 2025, Tổ công tác số 17 do tôi làm tổ trưởng, có Vũ Đình D và Hoàng Văn G làm tổ viên tiến hành dựng chốt kiểm tra nồng độ cồn, ma túy trong cơ thể người điều khiển phương tiện cơ giới tại đường N, thuộc phường M, tỉnh Quảng Ninh. Tôi phân công đ/c D đứng cách chốt kiểm tra nồng độ cồn khoảng 50m làm nhiệm vụ dừng, kiểm soát các phương tiện có biểu hiện quay đầu, né chốt; còn đ/c G và tôi trực tiếp đứng tại chốt để làm nhiệm vụ dừng phương tiện và kiểm tra nồng độ cồn. Đến 00 giờ 45 phút cùng ngày, xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, màu sơn Bạc, biển số 30E-604.52 di chuyển gần tới chốt, cách khoảng 50 mét thì đ/c G đã ra hiệu lệnh dừng xe bằng gậy, còi, nháy đèn nhằm dừng phương tiện để kiểm tra, tuy nhiên xe này chỉ giảm ga đi chậm chứ không dừng xe, vẫn cho xe tiếp tục di chuyển đi thẳng, đ/c G phải nhảy tránh sang bên trái theo hướng xe đang đi. Tôi đứng phía sau tiếp tục ra hiệu lệnh yêu cầu xe dừng lại bằng còi và đèn, tuy nhiên lái xe vẫn tiếp tục điều khiển xe đi thẳng khiến tôi phải nhảy lên nằm bám trên nắp capo để tránh bị đâm trúng, xe này thấy tôi nằm trên nắp capo thì tăng tốc để bỏ chạy. Bỏ chạy được khoảng 100 mét thì đ/c D đã điều khiển xe tuần tra biển số 14A-018.74 vượt lên chặn đầu khiến xe này đâm vào đuôi xe anh D và dừng lại. Tôi nhảy xuống nắp capo và cùng anh G, D kéo người lái xe xuống đường tuy nhiên do say rượu nên anh C loạng choạng ngã. Thấy thế tôi cùng anh G, anh D khống chế, giữ chặt anh C xuống đường, không cho anh C tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và ngăn anh C điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi thấy anh C không còn ý định bỏ chạy, chúng tôi bảo anh C đứng dậy để làm việc. Tuy nhiên khi đứng dậy thì anh C loạng choạng và tiếp tục ngã úp mặt xuống đường. Tôi cùng anh G, anh D liền dìu anh C dậy thì thấy trên mặt anh C bị sưng và có một số vết bầm. Chúng tôi đã tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với anh C, kết quả: 0,211 miligam/01 lít khí thở. Sau đó, tôi đã báo tin cho Công an phường M 1 đến để làm việc.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Cao Xuân K vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn không yêu cầu bồi thường về thiệt hại của xe ô tô BKS 14A- 018.74.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra như nội dung vụ án.
Bản Cáo trạng số: 23/CT-VKSQNH-KV ngày 30/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Vũ Văn C về tội “chống người thi hành công vụ”, quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội“chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 09 ( chín ) tháng đến 12 (mười hai ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 ( mười tám ) tháng đến 24 ( hai mươi bốn ) tháng về tội “chống người thi hành công vụ”.
Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: căn điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại cho bị cáo: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY màu bạc, biển số 30E-604.52; 01 Giấy phép lái xe số 220085001264 mang tên Vũ Văn C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 12/03/2024; 01giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 30E-604.52. 01 Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển số 30E-604.52; 01 Bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe ô tô biển số 30E-604.52 đều mang tên Chu Thị Thu Y.
Lưu tại hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ chứa video cam hành trình của xe ô tô biển số 30E-604.52.
Tại phiên toà: bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra. Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và tội danh: tại phiên toà bị cáo Vũ Văn C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố và diễn biến tại phiên toà, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản khám nghiệm phương tiện vật chứng thu giữ, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh xác định hiện trường, kết luận giám định, kế hoạch số: 42/KHTTKS-Đ3 ngày 16/10/2025 của Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số C3, Phòng C2 Công an tỉnh Q và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 00 giờ 45 phút ngày 23/10/2025, tại khu vực đường N thuộc phường M, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Văn C điều khiển xe ô tô biển số 30E-604.52 trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,211 miligam/01 lít khí thở, đã không chấp hành hiệu lệnh yêu cầu dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn, ma túy của Tổ công tác số 17 thuộc Phòng C2 Công an tỉnh Q; mà đã điều khiển xe bỏ chạy khiến đồng chí Cao Xuân K là cán bộ Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q đang thực hiện nhiệm vụ phải nhảy lên bám trên nắp capo của xe ôtô biển số 30E-604.52 để tránh bị đâm trúng. Sau đó, C đã bị Tổ công tác khống chế, bắt giữ.
Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Văn C, đã phạm vào tội “chống người thi hành công vụ”, theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật cần được chấp nhận.
Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện nhằm để phục công tác giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Ngoài ra bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều năm thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ an ninh Tổ quốc, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về biện pháp ngăn chặn: Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội nên căn cứ điểm d khoản 1 khoản 2 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY màu bạc, biển số 30E-604.52 của bị cáo là phương tiện đi lại hằng ngày nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
- 01 Giấy phép lái xe số 220085001264 mang tên Vũ Văn C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 12/03/2024; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 30E-604.52; 01 Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển số 30E-604.52; 01 Bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe ô tô biển số 30E-604.52 cùng mang tên Chu Thị Thu Y ( hiện lưu tại hồ sơ). Đây là giấy tờ xe liên quan đến chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY màu bạc, biển số 30E-604.52. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, giữa chị Chu Thị Thu Y và bị cáo đã thực hiện việc mua bán chiếc xe nêu trên; cả chị Y và bị cáo đều xác nhận giao dịch là có thật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ trả lại các giấy tờ liên quan đến chiếc xe cho bị cáo.
- 01 thẻ nhớ chứa video cam hành trình của xe ô tô biển số 30E-604.52 là chứng cứ trong vụ án cần được lưu tại hồ sơ.
Các tình tiết khác của vụ án:
Đối với hành vi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông mà trong hơi thở có nồng độ cồn của bị cáo C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q chuyển tài liệu đến Phòng C2 Công an tỉnh Q để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền lên Hội đồng xét xử không đề cập.
Đối với thương tích của bị cáo C, C thừa nhận do bản thân say rượu tự bị ngã hai lần gây ra nên không yêu cầu bồi thường dân sự lên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về thiệt hại của xe ô tô BKS 14A- 018.74 người đại diện theo uỷ quyền có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại lên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Áp dụng khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2.Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 09 ( chín ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( mười tám ) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 12 /5/2026) về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Giao bị cáo Vũ Văn C cho Ủy ban Nhân dân phường M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 67/2026/HSST- LCCT ngày 28/4/2026 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 101/QĐ-TA ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ninh đối với Vũ Văn C.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại cho bị cáo: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY màu bạc, biển số 30E-604.52 ( theo biên bản giao xe cho Vũ Văn C tạm thời bảo quản ngày 24/12/2025); 01 Giấy phép lái xe số 220085001264 mang tên Vũ Văn C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 12/03/2024; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 30E-604.52; 01 Giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô biển số 30E-604.52; 01 Bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe ô tô biển số 30E-604.52 đều mang tên Chu Thị Thu Y.
Lưu tại hồ sơ vụ án 01 ( một ) thẻ nhớ chứa video cam hành trình của xe ô tô biển số 30E-604.52.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- VKSND khu vực 6 - Quảng Ninh;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ninh;
- Phòng THADS khu vực 6 - Quảng Ninh;
- Phòng HSNV PV06 Công an tỉnh Quảng Ninh;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
Hoàng Việt Thành
- Lưu: hồ sơ vụ án, VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Việt Thành Đoàn Phương Thảo Bùi Thị Lệ Hằng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND khu vực 6 - Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ninh; - Phòng THADS khu vực 6 - Quảng Ninh; - Phòng HSNV PV06 Công an tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: hồ sơ vụ án, VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đoàn Phương Thảo Bùi Thị Lệ Hằng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Hoàng Việt Thành THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Việt Thành |