- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - TCTS - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2026/HS-ST Ngày 05 tháng 5 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh Hương
Ông Văn Tiến Vững
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2026/TLST- HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2026/QĐXXST
- HS ngày 25 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 12 tháng 7 năm 1968; Trú tại: Thôn C, xã Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân N, sinh năm 1939; Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1940; Vợ: Nguyễn Thị N1 sinh năm 1971 (Đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con (lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1992); Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Tại Bản án số 68/HSST ngày 29/10/1992 bị Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ) xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (đã xoá án tích).
- Tại Bản án số 132/HSST ngày 23/11/1995 bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ) xử phạt 12 tháng tù giam về tội Huỷ hoại tài sản công dân và 09 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản của công dân. Tổng hợp hình phạt chung là 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/1995 (đã xoá án tích).
- Ngày 29/12/1997 bị UBND thị xã S ra Quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng (đã được xoá tiền sự).
- Tại Bản án số 30/HSST ngày 11/10/2001 bị Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (cũ) xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích).
- Tại Bản án số 57/HSST ngày 25/10/2001 bị Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ) xử phạt 48 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2001, đã xoá án tích.
- Tại Bản án số 10/HSST ngày 04/3/2002 bị Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ) xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trốn khỏi nơi giam giữ, đã xoá án tích.
- Ngày 15/02/2012 bị Công an thị xã S, Thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt Vi phạm hành chính số tiền 2.000.000đ về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã được xoá tiền sự).
- Tại bản án số 05/2014/HSST ngày 24/01/2014 bị Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ) xử phạt 03 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/04/2025. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh P, (Có mặt);
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Bà Nguyễn Thị Kim Q sinh năm 1982 - Luật sư thuộc văn phòng L1 thuộc đoàn Luật sư tỉnh P, (Có mặt); * Người bị hại: Ông Nguyễn Văn H2 sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn Q, xã V, tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn H2: Ông Nguyễn Thanh T (anh trai ruột ông H2) sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn Q, xã V, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn H sinh năm 1968, trú tại: thôn C, xã Đ, thành phố Hà Nội là đối tượng không có việc làm ổn định, khoảng 17 giờ ngày 16/4/2025 H đi bộ từ nhà ra cửa hàng thu mua phế liệu của vợ chồng anh Vũ Văn T1, chị Đoàn Thị N2 ở ngã 3 đầu đường Q cách nhà H khoảng hơn 100m mượn xe cải tiến về làm phương tiện đi trộm cắp. Khi đến nơi H hỏi chị N2 cho H mượn xe cải tiến với lý do đi chở cây cảnh, vợ anh T1 đồng ý. Sau đó H kéo xe cải tiến về nhà H rồi buộc càng xe vào yên xe máy nhãn hiệu Honda Dream của H (xe được mua lại ở cửa hàng sắt vụn nên H không nhớ biển kiểm soát của xe này như thế nào). Đến khoảng 21 giờ cùng ngày H một mình điều khiển xe lôi đi từ nhà H đến huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc tìm trộm cắp cây cảnh. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, H đến căn biệt thự nhà ông Nguyễn Văn H2 tại thôn Q, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ), thấy trong sân có nhiều cây cảnh, H trèo qua cổng đi đến vị trí có nhiều cây cảnh thì thấy ngôi nhà không có người ở nên H đi vòng ra phía sau nhà sử dụng đèn pin mang theo soi qua cửa sổ bằng kính phía sau nhà, thấy bên trong có dàn loa đài rất to nên nảy sinh ý định sẽ trộm cắp bộ loa đài này, tuy nhiên do lúc này chưa có sự chuẩn bị nên H không thực hiện trộm cắp ngay mà để đến ngày hôm sau. H quay ra phía cổng rồi trèo qua cổng lấy xe lôi đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày 17/4/2025, H bảo chị Quàng Thị P sinh năm 1975, trú tại xã N, huyện Q, tỉnh Sơn La (Nay là xã M, tỉnh Sơn La) là người ăn ở cùng H như vợ chồng kéo xe cải tiến đi trả cho vợ chồng anh T1.
Khoảng 17 giờ ngày 18/4/2025, H tiếp tục đi đến nhà anh T1 mượn xe cải tiến, khi mượn xe H vẫn nói với chị N2 mục đích để đi chở cây cảnh, chị N2 đồng ý. Sau đó H kéo xe cải tiến về nhà H và buộc vào yên xe máy nhãn hiệu Honda Dream của H, lúc này H đã chuẩn bị và mang theo 01 kìm cắt sắt, 01 xà cầy, 01 tấm thảm nỉ, 01 tấm bạt màu xanh đều có sẵn trong nhà H để ở trên thùng xe cải tiến. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H một mình điều khiển xe lôi đi từ nhà H sang địa bàn huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ngồi nghỉ, đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì lên xe di chuyển đến cổng căn biệt thự nhà anh H2. Khi đến nơi H dừng xe lôi để ở bên đường đối diện cổng dưới 01 gốc cây nhãn to. Sau đó H lấy tấm bạt xanh trên xe buộc vào 02 cánh cổng che đống gạch xếp ngang cổng lại rồi lấy xà cầy, kìm cắt sắt trèo qua cổng đi đến vị trí cửa sổ phía sau nhà (bên trong cửa sổ không có song cửa) và dùng xà cầy cạy giữa 02 cánh cửa làm 02 cánh cửa sổ mở bung ra ngoài. H chèo qua cửa sổ sử dụng đèn pin đi đến mở chốt cửa chính, sau khi mở được cửa chính H đi đến vị trí đặt dàn âm thanh rồi khênh 01 chiếc loa đứng nhưng do chiếc loa này quá nặng H không thể khênh được nên H đi đến vị trí đặt 03 thiết bị âm thanh gồm đầu đĩa, cục chuyển đổi và âm ly tháo các giắc cắm phía sau các thiết bị này và bê từng thiết bị đặt ở sảnh ra vào trước cửa chính. Sau khi lấy đủ 03 thiết bị trên ra đặt ở sảnh thì H đi ra cổng lấy xe lôi vào. Khi đi đến cổng H thấy cổng không khóa mà chỉ được buộc bằng dây sắt loại phi 6 nên H dùng kìm cắt sắt cắt dây buộc cổng và xếp gạch sang hai bên để lấy lối cho xe lôi đi vào. Sau khi xếp gạch xong H đi đến vị trí xe lôi tháo xe cải tiến ra, kéo xe cải tiến đi qua cổng vào đến sân trước sảnh nhà chính. Sau đó H bê 03 thiết bị mà H đã đặt ở sảnh ra vào trước cửa chính lên thùng xe cải tiến, sau khi bê tất cả lên xe cải tiến H đi vào trong phòng ngủ đầu tiên bên trái theo hướng từ cửa chính đi vào lấy 02 tấm chăn mỏng để trên giường ra để ở cạnh 01 cục đẩy rồi cho cục đẩy lên chiếc chăn này kéo ra sảnh trước cửa chính. Sau khi kéo được cục đẩy này ra đến đầu sảnh thì H đẩy phần đầu xe cải tiến gếch lên bậc thang rồi H vần cục đẩy đặt xuống thùng xe cải tiến (phần đầu xe) rồi tiếp tục đi đến nhà thờ bên ngoài sân trước cửa nhà chính lấy 01 ghế tựa bằng gỗ mục đích để đệm vào phần càng xe để cho xe cải tiến được cân bằng giúp H dễ dàng nâng cục đẩy thứ 2 lên. Sau khi kê ghế vào phần càng xe xong H lấy chiếc chăn mà H vừa sử dụng để kéo chiếc cục đẩy thứ nhất rồi đi vào vị trí dàn âm thanh tiếp tục vần chiếc cục đẩy còn lại ra xe cải tiến. Sau khi cho được cục đẩy này lên phần đuôi xe cải tiến thì H quay vào lấy thêm 01 tượng gỗ khắc hình ông Di L và 01 tượng bằng kim loại màu vàng hình con mèo gắn trên 01 tấm gỗ để trên thùng xe lôi rồi lấy các tấm chăn, thảm mang theo phủ quanh các thiết bị H đã trộm cắp được để các thiết bị không va đập vào nhau và để người khác không phát hiện. Sau đó H kéo xe cải tiến ra cổng, khi kéo xe đến giữa cổng thì cục đẩy phía sau bị rơi xuống đất do sợ bị phát hiện nên H không quay lại để lấy cục đẩy này nữa mà kéo xe cải tiến sang phía gốc cây nhãn đối diện cổng buộc xe cải tiến vào xe máy rồi đi về thẳng về nhà H. Khi H đi đến một căn nhà không có người ở cách nhà H khoảng 50m lúc này là khoảng 04 giờ 30 phút ngày 19/4/2025 thì H bê các thiết bị điện tử H đã trộm cắp được từ thùng xe cải tiến xuống đặt tại rãnh mương nước trong sân ngôi nhà này. Sau đó H đi xe lôi về nhà H cất xe cải tiến trước cửa nhà rồi quay lại vị trí H cất các thiết bị âm thanh đã trộm cắp được và cho 01 cục đẩy lên yên xe phía sau và chở đi đến 01 ngôi nhà bỏ hoang thuộc thôn Đ, xã C, thị xã S cách nhà H khoảng gần 01km rồi để cục đẩy này bên trong ngôi nhà hoang này, sau đó H quay lại đi đến ngôi nhà không có người ở tiếp tục chở 01 cục chuyển đổi âm thanh đến để tại ngôi nhà bỏ hoang. H định sẽ quay lại chở nốt các thiết bị âm thanh còn lại để ở nhà không có người ở đến nhà hoang nhưng do lúc này đã quá mệt nên H mang xe máy về cất tại nhà. Khi về đến nhà H bảo chị P đem xe cải tiến đi trả cho nhà anh T1, H không nói cho chị P biết về việc H vừa đi trộm cắp được các tài sản nêu trên, sau đó H một mình đi bộ quay lại nhà hoang ngủ tại đây. Sau đó H được biết Công an tỉnh V đến triệu tập nên H đã ra đầu thú, tự nguyện giao nộp lại các tài sản H đã trộm cắp được tại nhà anh H2 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an tỉnh V cũ (nay là Công an tỉnh P).
Ngày 23/4/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có Quyết định trưng cầu giám định số 2454/QĐ-CSHS đề nghị giám định đối với “Dấu vết vân giày thu tại hiện trường”. Tại bản kết luận giám định số 1066/KL-KTHS ngày 01/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh V đã kết luận “Vân đế giày của 02 đôi giày gửi giám định ký hiệu A4, A5 và vân đế giày/dép tại ảnh số 22 của bản ảnh vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại TT V ngày 19/4/2025 cùng loại”
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 54/KL-HĐĐGTTHS ngày 06/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Bộ cơ + giải mã: MBL 1261A + Digital A, giá trị 452.000.000đồng (Trong đó Bộ cơ + giải mã: MBL 1261A trị giá 223.500.000đồng và D2 trị giá 229.200.000 đồng), Bộ P1 MBL 6010D + Pow MBL 9008A Endstufe, giá trị 451.800.000đồng (Trong đó Bộ P1 MBL 6010D trị giá 216.900.000đồng và Pow MBL 9008A Endstufe trị giá 234.900.000đồng), D nguồn Pow amp Moniter A, giá trị 10.600.000đồng, D nguồn Pre amp Audiomica AML-RC10-RH, giá trị 6.200.000đồng, Dây mạng streaming và sever DFSS POM-CAP50, giá trị 2.900.000đồng, Dây kết nối cơ và giải mã Audiomica AML-XLR 10Ag, giá trị 5.600.000đồng, Dây nguồn cơ MBL 1621A Jasper Reference, giá trị 2.800.000đồng, Dây loa Celes Excelence, giá trị 8.800.000đồng, Dây D1 cắm từ cơ vào giải mã Audiomica Pearl C, giá trị 20.600.000đồng, Dây nguồn giải mã Digital analog Windler JASPER REFERENCE, giá trị 2.400.000đồng. Tổng giá trị tài sản định giá nêu trên là: 964.400.000đồng (Chín trăm sáu mươi tư triệu bốn trăm nghìn đồng). Tuy nhiên còn thiếu 01 tài sản là Cục đẩy nhãn hiệu Pow MBL 9008A Endstufe bị rơi tại cổng nhà bị hại đã được trả lại cho gai đình bị hại nhưng Cơ quan điều tra không tiến hành định giá tài sản.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 36/KL-HĐĐGTTHS ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận: 01 (một) tượng gỗ ngọc am khắc hình ông Di L, kích thước: Cao khoảng 60cm, dài khoảng 30cm, rộng khoảng 25cm, giá trị 7.500.000đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 03/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 3195/CSHS giám định kim loại: Mẫu giám định là 01 (một) con mèo kim loại màu vàng, kích thước: dài khoảng 70cm, rộng khoảng 19 cm, cao khoảng 16cm gắn trên 01 tấm gỗ, được niêm phong trong một thùng catong (ký hiệu A6).
Tại Bản kết luận số 4420/KL-KTHS ngày 06/6/2025 của V - Bộ C1 kết luận: Con mèo bằng kim loại màu vàng bên trong chứa chất bột màu nâu dạng đất, phần kim loại là hợp kim đồng (Cu), chì (P), thiếc (Sn), kẽm (Zn); hàm lượng trung bình Cu 71,76%, Pb B, Sn 3,71%, Zn 1,45%; con mèo có màu vàng do được phủ vàng (Au). Tổng khối lượng của con mèo bằng kim loại bên trong chứa chất bột màu nâu dạng đất và tấm gỗ là 22,8kg.
Ngày 20/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đã ra Yêu cầu định giá tài sản số A9132/YC-CSHS, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã V, tỉnh Phú Thọ định giá đối với 01 (một) con mèo bằng kim loại màu vàng được gắn trên tấm gỗ, bên trong chứa chất bột màu nâu dạng đất, phần kim loại là hợp kim đồng (Cu), chì (P), thiếc (Sn), kẽm (Zn); hàm lượng trung bình Cu 71,76%, Pb B, Sn 3,71%, Zn 1,45%; con mèo có màu vàng do được phủ vàng (Au), tổng khối lượng của con mèo và tấm gỗ là 22,8kg.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 03/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã V, tỉnh Phú Thọ kết luận:
- Giá trị của con mèo bằng kim loại màu vàng được gắn trên tấm gỗ nêu trên là 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng).
Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu bao gồm:
Quá trình khám nghiệm hiện trường tại nhà ông Nguyễn Văn H2 sinh năm 1981 thuộc địa phận thôn Q, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) đã thu giữ: 01 (một) đoạn dây điện vỏ màu đỏ dài 0,22m, hai đầu bọc nhựa màu đen và hở kim loại, 03 (ba) đoạn dây điện vỏ màu đỏ, hai đầu có giắc kết nối màu đen, nhàn hiệu JASPER REFERENCE, 02 (hai) đoạn dây truyền tải âm thanh nhãn hiệu Audiomica, 02 (hai) giá gỗ màu nâu, 01 (một) ấm và 01 (một) chén men sứ màu trắng có hoa văn màu vàng đen, 01 (một) gói kẹo, 01 (một) chai thủy tinh, 01 (một) đoạn dây dù màu xanh dài 3,6m, Chất màu nâu đỏ trên cánh cổng bằng phương pháp thẩm thấu vào 02 (hai) đầu tăm bông, 01 (một) tấm bạt màu xanh.
Ngày 21/4/2025, anh Vũ Văn T1 giao nộp: 01 (một) xe kéo (loại xe lôi) có chiều dài khoảng 3m, rộng khoảng 1,2m có 02 bánh lốp bằng cao su, thân xe, thùng xe và tay kéo bằng kim loại, phía sau được buộc 02 tấm gỗ và hàn kim loại phía sau.
Ngày 22/4/2025, chị Quàng Thị P giao nộp: 01 (một) đôi dày giả da màu đen loại dày lười, phía trước có gắn kim loại được ký hiệu LV, phía sau có dập chữ LOUIS VUITTION, phần đế dày bám dính nhiều đất; 01 (một) đôi dày giả da màu nâu loại dày lười, phía trước có gắn kim loại được ký hiệu LV, phía sau có dập chữ LOUIS VUITTION,
Ngày 23/4/2025, Nguyễn Văn H giao nộp các đồ vật, tài sản sau: 01 (một) thiết bị âm thanh có hình chữ nhật màu đen, phía trước có các nút bấm màu vàng hình tròn, bên trái có dòng chữ số MBL1611 có kích thước: cao 15cm, rộng 18cm, dài 43cm, cũ đã qua sử dụng, 01 (một) thiết bị âm thanh có hình chữ nhật màu đen, phía trước có chữ MBL màu vàng, có kích thước: cao 24cm, rộng 53cm, dài 31,5cm, cũ đã qua sử dụng, 02 (hai) dây đường truyền tín hiệu dài khoảng 203cm, ở hai đầu dây được nối hình tròn màu đen, dây có đường kính rộng khoảng 1cm, vỏ được bọc màu đỏ. Dây cũ đã qua sử dụng, 02 (hai) dây tín hiệu màu đỏ dài khoảng 105cm, hai dây được nối với phích cắm màu đen hình tròn đường kính 1,5cm, vỏ được bọc màu đỏ, dây cũ đã qua sử dụng, 01 (một) dây màu ghi xám dài khoảng 1m; đường kính rộng 0,5m, dây cũ đã qua sử dụng, 01 (một) dây màu đỏ dài khoảng 0,5m; đường kính rộng 0,5m, dây cũ đã qua sử dụng, 01 (một) dây dẫn âm thanh màu đỏ dài 2,5m; đường kính 1,5cm, dây cũ đã qua sử dụng, 01 (một) dây màu ghi dài khoảng 3m; đường kính rộng 1,5cm, dây cũ đã qua sử dụng, 01 (một) con mèo bằng kim loại màu vàng, dài 70cm, cao 16cm, rộng 19cm đặt trên tấm gỗ, 01 (một) tượng gỗ hình phật di lạc cao 63cm; dài 33cm; rộng 24cm, 01 (một) chăn vải xuân hè màu trắng xanh. Chăn cũ đã qua sử dụng, 01 (một) vỏ ga màu xanh có hoạ tiết lá cây màu vàng, cam, trắng, 01 (một) vỏ chăn vải xuân hè màu xanh có hoạ tiết hình bông hoa màu trắng hồng, 01 (một) vỏ ga màu vàng nhạt có hoạ tiết hình bông hoa màu trắng, 01 (một) cục đẩy âm thanh có hình chữ nhật màu đen, mặt trước có nút bấm màu vàng, có kích thước: cao 30cm, rộng 48cm, dài 59cm, 01 (một) đầu đĩa có hình chữ nhật màu đen, vàng, mặt trước có nút bấm hình tròn màu vàng, bên trái có dòng chữ số MBL 1621CD transport màu vàng, bên phải có vết trầy xước có kích thước rộng 48cm; dài 43cm; cao 15cm.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 34/CT-VKS-P1 ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Ngày 09/3/2026 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có Quyết định phân công Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 15 năm tù đến 16 năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì lý do bị cáo không có tài sản, không có công việc làm và thu nhập ổn định.
Đồng thời yêu cầu xử lý vật chứng của vụ án theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Luật sư được Toà án chỉ định bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên toà: Nhất trí với nội dung, hành vi phạm tội của bị cáo, nhất trí theo như Viện kiểm sát đã luận tội đối với bị cáo. Tuy nhiên xét thấy bị cáo đã rất thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện ra đầu thú và được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo Nguyễn Văn H được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
Bị cáo Nguyễn Văn H không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện theo uỷ quyền của người bị hại không tranh luận gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn H
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy Cơ quan điều tra còn thiếu sót trong việc tiến hành định giá các tài sản bị trộm cắp trong đó còn thiếu 01 tài sản là Cục đẩy nhãn hiệu Pow MBL 9008A Endstufe bị rơi tại cổng nhà bị hại đã được trả lại cho gia đình bị hại nhưng Cơ quan điều tra không tiến hành định giá tài sản đó. Nhận thấy, hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo bị truy tố theo khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự (là điều khoản cao nhất của tội trộm cắp tài sản) nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung nhưng cần kiến nghị Cơ quan điều tra rút kinh nghiệm.
.Về nội dung vụ án: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn H là người có đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do lười lao động và để có tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 19/04/2025, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: Bộ cơ + giải mã: MBL 1261A + Digital A, Bộ P1 MBL 6010D + Pow MBL 9008A Endstufe, Dây nguồn Pow amp M, D nguồn Pre amp A AML-RC10-RH, Dây mạng streaming và sever DFSS POM-CAP50, Dây kết nối cơ và giải mã Audiomica AML-XLR 10Ag, Dây nguồn cơ MBL 1621A Jasper Reference, Dây loa C, Dây D1 cắm từ cơ vào giải mã Audiomica Pearl C, D nguồn giải mã Digital analog Windler JASPER REFERENCE; 01 (một) tượng gỗ ngọc am khắc hình ông Di L, kích thước: Cao khoảng 60cm, dài khoảng 30cm, rộng khoảng 25cm và con mèo bằng kim loại màu vàng được gắn trên tấm gỗ của nhà ông Nguyễn Văn H2 tại thôn Q, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ) với tổng giá trị là 986.900.000đ (Chín trăm tám mươi sáu triệu chín trăm nghìn đồng). Ngoài ra còn có 01 tài sản Cục đẩy nhãn hiệu Pow MBL 9008A Endstufe bị rơi tại hiện trường, cơ quan điều tra không tiến hành định giá tài sản nói trên.
Do vậy, hành vi như đã nêu trên của Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…………
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;”
Như vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự xã hội và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị rất lớn của người khác. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giúp bị cáo sau này biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, tạo điều kiện cho bị cáo rèn luyện trở thành người công dân biết chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung tội phạm.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn H là người có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị Toà án đưa ra xét xử về các hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng, trốn khỏi nơi giam giữ và đã từng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng, từng bị xử phạt hành chính. Tuy bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án và các Quyết định hành chính và đã được xóa án tích nhưng điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo nên cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm. Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã “thành khẩn khai báo” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân. Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của người bị hại là ông Nguyễn Thanh T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H. Do vậy, bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên cần xử phạt bị cáo mức án tù theo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, không có công việc làm ổn định và không có tài sản riêng vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp
. Về vật chứng của vụ án:
- Đối với các tài sản gồm: 01 (một) thiết bị âm thanh có hình chữ nhật màu đen, phía trước có các nút bấm màu vàng hình tròn, bên trái có dòng chữ số MBL1611 có kích thước: cao 15cm, rộng 18cm, dài 43cm, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) thiết bị âm thanh có hình chữ nhật màu đen, phía trước có chữ MBL màu vàng, có kích thước: cao 24cm, rộng 53cm, dài 31,5cm, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) cục Đ có hình chữ nhật màu đen, mặt trước có nút bấm màu vàng, có kích thước: cao 30cm, rộng 48cm, dài 59cm; 01 (một) đầu đĩa có hình chữ nhật màu đen, vàng, mặt trước có nút bấm hình tròn màu vàng, bên trái có dòng chữ số MBL 1621CD transport màu vàng, bên phải có vết trầy xước có kích thước rộng 48cm; dài 43cm; cao 15cm; 02 (hai) dây đường truyền tín hiệu dài khoảng 203cm, ở hai đầu dây được nối hình tròn màu đen, dây có đường kính rộng khoảng 1cm, vỏ được bọc màu đỏ, dây cũ đã qua sử dụng; 02 (hai) dây tín hiệu màu đỏ dài khoảng 105cm, hai dây được nối với phích cắm màu đen hình tròn đường kính 1,5cm, vỏ được bọc màu đỏ, dây cũ đã qua sử dụng; 01 (một) dây màu ghi xám dài khoảng 1m; đường kính rộng 0,5m. Dây cũ đã qua sử dụng; 01 (một) dây màu đỏ dài khoảng 0,5m; đường kính rộng 0,5m, dây cũ đã qua sử dụng; 01 (một) dây dẫn âm thanh màu đỏ dài 2,5m; đường kính 1,5cm, dây cũ đã qua sử dụng; 01 (một) dây màu ghi dài khoảng 3m; đường kính rộng 1,5cm, dây cũ đã qua sử dụng; 01 (một) con mèo bằng kim loại màu vàng, dài 70cm, cao 16cm, rộng 19cm đặt trên tấm gỗ; 01 (một) tượng gỗ hình phật di lạc cao 63cm; dài 33cm; rộng 24cm.; 03 (ba) đoạn dây điện vỏ màu đỏ, hai đầu có giắc kết nối màu đen, nhàn hiệu JASPER REFERENCE.; 02 (hai) đoạn dây truyền tải âm thanh nhãn hiệu Audiomica; 02 (hai) giá gỗ màu nâu; 01 (một) ấm và 01 (một) chén men sứ màu trắng có hoa văn màu vàng đen; 01 (một) gói kẹo; 01 (một) chai thủy tinh. Quá trình điều tra xác định: Các tài sản nêu trên là tài sản hợp pháp của của ông Nguyễn Văn H2 sinh năm 1981, trú tại thôn Q, xã V, tỉnh Phú Thọ. Ngày 10/6/2025, quá trình làm việc với ông Nguyễn Văn H2 có làm đơn ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh T sinh năm 1972, trú tại xã V, tỉnh Phú Thọ (là anh trai của anh H2) làm đại diện cho anh H2 để làm việc với Cơ quan điều tra liên quan đến vụ việc trên. Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V (cũ) đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho ông T các tài sản nêu trên. Nhận lại tài sản, ông T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với các tài sản gồm: 01 (một) chăn vải xuân hè màu trắng xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) vỏ ga màu xanh có hoạ tiết lá cây màu vàng, cam, trắng; 01 (một) vỏ chăn vải xuân hè màu xanh có hoạ tiết hình bông hoa màu trắng hồng; 01 (một) vỏ ga màu vàng nhạt có hoạ tiết hình bông hoa màu trắng; 01 (một) đoạn dây dù màu xanh dài 3,6m và 01 (một) tấm bạt màu xanh. Quá trình điều tra xác định: Đây là các công cụ được Nguyễn Văn H sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 19/4/2025 và tài sản nhà anh H2 không nhận lại, do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
Đối với mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường nêu trên trong quá trình giám định đã sử dụng hết.
- Đối với 01 (một) xe kéo (loại xe lôi) có chiều dài khoảng 3m, rộng khoảng 1,2m có 02 bánh lốp bằng cao su, thân xe, thùng xe và tay kéo bằng kim loại, phía sau được buộc 02 tấm gỗ và hàn kim loại phía sau. Quá trình xác minh xác định chiếc xe kéo nêu trên là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Vũ Văn T1 và chị Đoàn Thị N2: Chiều ngày 17/4/2025, H đã đến nhà anh T1 để hỏi mượn chị N2 chiếc xe kéo nêu trên về để sử dụng, bản thân chị N2 và anh T1 đều không biết H sử dụng chiếc xe kéo trên vào mục đích gì và cũng không biết H sử dụng chiếc xe kéo nêu trên vào mục đích đi chở đồ mà H trộm cắp rạng sáng ngày 19/4/2025. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh T1 tài sản nêu trên. Nhận lại tài sản, anh T1 không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với các tài sản gồm: 01 (một) đôi dày giả da màu đen loại dày lười, phía trước có gắn kim loại được ký hiệu LV, phía sau có dập chữ LOUIS VUITTION, phần đế dày bám dính nhiều đất. 01 (một) đôi dày giả da màu nâu loại dày lười, phía trước có gắn kim loại được ký hiệu LV, phía sau có dập chữ LOUIS VUITTION. Đều là tài sản của H, trong đó đôi dày giả da màu đen loại dày lười, phía trước có gắn kim loại được ký hiệu LV, phía sau có dập chữ LOUIS VUITTION, phần đế dày bám dính nhiều đất được H sử dụng để đi trong quá trình trộm cắp tài sản ngày 19/4/2025. Do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình đầu thú Nguyễn Văn H đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ tài sản mà H đã trộm cắp được ở nhà anh H2 cho Cơ quan điều tra. Anh T là người được anh H2 uỷ quyền đã nhận lại các tài sản bị H trộm cắp và không yêu cầu H phải bồi thường thêm khoản tiền gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy các tài sản do không còn giá trị sử dụng bao gồm:
+ 01 (một) chăn vải xuân hè màu trắng xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) vỏ ga màu xanh có hoạ tiết lá cây màu vàng, cam, trắng; 01 (một) vỏ chăn vải xuân hè màu xanh có hoạ tiết hình bông hoa màu trắng hồng; 01 (một) vỏ ga màu vàng nhạt có hoạ tiết hình bông hoa màu trắng; 01 (một) đoạn dây dù màu xanh dài 3,6m và 01 (một) tấm bạt màu xanh
+ 01 (một) đôi dày giả da màu đen loại dày lười, phía trước có gắn kim loại được ký hiệu LV, phía sau có dập chữ LOUIS VUITTION, phần đế dày bám dính nhiều đất. 01 (một) đôi dày giả da màu nâu loại dày lười, phía trước có gắn kim loại được ký hiệu LV, phía sau có dập chữ LOUIS VUITTION
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh P và Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Phú Thọ lập ngày 18 tháng 3 năm 2026
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo uỷ quyền của người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - CQCSĐT Công an tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 10 - Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Phú Thọ; - UBND xã Đoài Phương, TP Hà Nội; - Công an xã Đoài Phương, TP Hà Nội; - Bị cáo H; - Luật sư bào chữa cho bị cáo; - Đại diện người bị hại; - Lưu VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hải |