- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn Nam - Cố ý gây thương tích - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2026/HS-ST Ngày: 11/5/2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Cẩm Hưng
2. Bà Nguyễn thị Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thiện - Thư ký Tòa án nhân Khu vực 1 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hưng Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Văn N, sinh năm 1999, tại: thôn LL, xã TH, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn LL, xã TH, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông: Cao Văn C, sinh năm 1972; Con bà: Trần Thị T, sinh năm 1972; Vợ: Sìn Thị D, sinh năm 2007 (đăng ký kết hôn ngày 30/01/2026); Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/01/2026 đến nay; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Đào Đức Th, sinh năm 1999 “Vắng mặt”
Địa chỉ: Thôn TN, xã TH, tỉnh Hưng Yên.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn B, sinh năm 1987, sinh năm 1982 “Vắng mặt”
Địa chỉ: Thôn LS, xã TL, tỉnh Hưng Yên.
Ngƣời làm chứng:
- Anh Đào Ngọc A, sinh năm 1995 “Vắng mặt”
Địa chỉ: Thôn NL, xã TH, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Đào Trọng H, sinh năm 1992 “Vắng mặt”
Địa chỉ: Thôn Diệt Pháp, xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 11/11/2025 Cao Văn N cùng anh Đào Đức Th và anh Đào Ngọc A đến nhà anh Đào Trọng H. Khi cả nhóm đang ngồi uống rượu, Th nói với N về việc trước đây N có vay của Th số tiền 750.000 đồng nhưng chưa trả hết và bảo “mày đi ra ngõ anh bảo mày cái này” thì N bảo “có chuyện gì thì nói tại đây, toàn anh em có gì phải giấu, còn nếu muốn đánh em thì em ra ngõ cho anh đánh”. Khi nghe N nói vậy Th liền dùng tay phải giơ lên tát một nhát vào mặt bên trái của N, ngay sau khi bị Th đánh N dùng tay trái cầm cốc thủy tinh mà N đang dùng để uống rượu có hình bầu dục cao khoảng 10cm, đường kính 05 cm giơ lên đập một nhát vào phần đỉnh đầu bên phải của Th làm cốc thủy tinh vỡ, các mảnh vỡ rơi xuống tai phải, cánh tay phải của Th làm trầy xước da, chảy máu. Tiếp đó, N ôm ghì Th, giằng co vật lộn nhau dưới nền nhà làm bát sứ ăn cơm bị vỡ dẫn đến mảnh vỡ của bát sứ và mảnh vỡ của cốc thủy tinh cứa vào cẳng tay phải của Th làm rách da sâu chảy nhiều máu. Trong lúc bị N ôm ghì, Th đã dùng tay phải bóp vào cổ của N để đẩy N thì tay trượt ra tạo thành các vết xước da ở vùng cổ bên phải của N. Sự việc được H và Ngọc A can ngăn sau đó chạy đi gọi người đến đưa cả hai đến trạm y tế TP, xã TL để rửa và khâu vết thương. Do N bị thương tích nhẹ nên N không đi khám điều trị ở cơ sở y tế nào nữa. Đào Đức Th sau khi khâu vết thương xong, Th đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên điều trị đến ngày 19/11/2025 thì ra viện. Ngày 19/11/2025 anh Đào Đức Th đã có đơn trình báo nội dung sự việc trên đến Công an xã TL, tỉnh Hưng Yên.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 215/2025/KLTgTHS-TTPY&GĐYK ngày 09/12/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế tỉnh Hưng Yên đối với thương tích của anh Đào Đức Th kết luận:
- 05 sẹo nhỏ vùng thái dương đỉnh phải (mỗi sẹo tỷ lệ 01%)
- 01 sẹo mặt trước trên bờ trong vành tai phải; Sẹo không có rúm vành tai (tỷ lệ 01%)
- 01 sẹo mặt trước dưới vành tai phải; sẹo không co rúm vành tai (tỷ lệ 01%)
- 01 sẹo nhỏ vùng cổ bên phải phía sau vành tai (tỷ lệ 02%)
- 01 sẹo nhỏ ngang mặt ngoài khuỷu tay phải (tỷ lệ 01%)
- 05 sẹo nhỏ mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải (mỗi sẹo tỷ lệ 01%)
- Hình ảnh lõm nhẹ thành trong ổ mắt hai bên. Đây là hình ảnh dạng dấu vết cũ có trước thời điểm xảy ra vụ việc trên, do vậy không có cơ sở để áp dụng tỉ lệ % tổn thương cơ thể do thương tích trong vụ việc trên gây ra.
Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đào Đức Th tại thời điểm giám định là 14 %.
- Cơ chế hình thành thương tích do dạng vật cứng có cạnh không đều gây nên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân xã Tiên Lữ, kết luận:
Giá trị của 01 cốc thủy tinh màu trắng không có họa tiết cao 10cm, đường kính 05cm tại thời điểm ngày 11/11/2025 là 0 đồng.
Giá trị của 01 bát sứ màu trắng có hoa văn đường kính 10cm, cao 05cm tại thời điểm ngày 11/11/2025 là 0 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đối với những mảnh thủy tinh, mảnh sứ vỡ mà N đã sử dụng để gây thương tích cho bị hại do anh Đào Trọng H đã dọn dẹp vứt ra ngoài đường tuy nhiên Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm rà soát kết quả không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự:
Cao Văn N đã bồi thường trách nhiệm dân sự đối với thương tích đã gây ra cho anh Đào Đức Th số tiền 45.000.000 đồng. Anh Th đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự.
Đối với 01 cốc thủy tinh, 01 bát sứ bị vỡ trong quá trình N và Th đánh nhau, do giá trị thiệt hại tài sản là 0 đồng, ngoài ra không gây thiệt hại gì khác nên anh Đào Trọng H không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Quá trình điều tra Cao Văn N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 107/CT-VKS-KV1 ngày 26/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hưng Yên truy tố Cao Văn N về tội Cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng truy tố.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn N phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Cao Văn N cho Ủy ban nhân dân xã TH, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Nếu trong quá trình chấp hành án bị cáo Cao Văn N thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 3 Điều 92, khoản 3 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo N vi phạm nghĩa vụ chấp hành án 02 lần trở lên thì có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã tuyên theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hưng Yên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng Đơn trình báo và lời khai của người bị hại anh Đào Đức Th; Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 215/2025/KLTgTHS-TTPY&GĐYK ngày 09/12/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế tỉnh Hưng Yên; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn B; Lời khai người làm chứng anh Đào Ngọc A, anh Đào Trọng H; Bản tường trình và lời khai của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Các tài liệu, chứng cứ này đã được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã có đủ căn cứ kết luận: Do mâu thuẫn cá nhân trong việc nợ nần tiền bạc từ trước nên khoảng 13 giờ ngày 11/11/2025 tại nhà Đào Trọng H ở thôn Diệt Pháp, xã Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, sau khi bị Đào Đức Th đòi tiền và dùng tay phải tát vào mặt, Cao Văn N đã có hành vi dùng tay trái cầm cốc tủy tinh đập vào vùng đầu bên phải của Th, tiếp đó N ôm ghì Th xuống nền nhà, quá trình vật lộn, mảnh vỡ của cốc thủy tinh, bát sứ cứa vào cánh tay phải của Th. Hậu quả: Th bị thương rách da, chảy máu ở vùng thái dương đỉnh phải, vành tai phải, vùng cổ, khủy tay phải tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%.
Cao Văn N dùng cốc thủy tinh là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Đào Đức Th tỷ lệ tổn thương cơ thể 14% nên hành vi trên của Cao Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Việc Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hưng Yên truy tố Cao Văn N về tội danh và áp dụng điều luật như bản Cáo trạng viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đã tự nguyện bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại; bản thân bị hại cũng có lỗi một phần là tát bị cáo trước và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Hành vi của Cao Văn N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về sức khỏe của con người, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã dùng chiếc cốc đập vào đầu anh Th làm anh Th bị thương tích nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội do đã sử dụng rượu nên bị cáo không làm chủ được bản thân dẫn đến khi bị anh Th tát bị cáo đã đã thực hiện hành vi gây thương tích cho anh Th. Tuy nhiên sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã nhận thức được sai lầm của mình đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bồi thường thiệt hại cho bị hại. Việc làm trên thể hiện ý thức mong muốn tu sửa bản thân, sửa chữa lỗi lầm của bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo được sự răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Th đã nhận số tiền 45.000.000đồng bị cáo N bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không đề cập giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Các vấn đề khác:
Đối với hành vi Đào Đức Th dùng tay tát sau đó bóp cổ Cao Văn N, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích, Quyết định dẫn giải đối với N nhưng N kiên quyết từ chối đi giám định, đồng thời, N bị thương tích nhẹ không đi điều trị tại cơ sở y tế nào nên không có cơ sở để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với N. Do vậy ngày 26/01/2026 Ủy ban nhân dân xã TL đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 07/QĐ-XPHC ngày 31/12/2021 đối với Đào Đức Th về hành vi quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định cử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt, án phí là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn N phạm tội Cố ý gây thương tích.
Xử phạt bị cáo Cao Văn N 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Cao Văn N cho Ủy ban nhân dân xã TH, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Nếu trong quá trình chấp hành án bị cáo Cao Văn N thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 3 Điều 92, khoản 3 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo N vi phạm nghĩa vụ chấp hành án 02 lần trở lên thì có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã tuyên theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Cao Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Án xử sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND Khu vực 1 - Hưng Yên; - Chính quyền địa phương; - TAND tỉnh Hưng Yên; - THA dân sự tỉnh Hưng Yên; - Lưu hồ sơ án phạt nhân thân; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lý |