vanban.org

Bản án 74/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vương Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.

Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét. Về tài sản chung, công nợ: Không có nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Vương Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2026/HNGĐ-ST
Ngày 23/6/2026
V/v: Tranh chấp về HNGĐ giữa
Anh Trường và chị Thủy.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành, bà Nguyễn Thị Sơn.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh: Ông Đỗ Tá Tuấn, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 269/2026/TLST-HNGĐ, ngày 06/3/2026 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Vương Văn T, sinh năm 1982 (có mặt).

Trú tại: Tổ dân phố G, phường M, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Trú tại: Tổ dân phố G, phường M, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là anh Vương Văn T trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T1 ngày 21/11/2003, có được tìm hiểu và tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường M, tỉnh Bắc Ninh). Cưới xong chị T1 về nhà anh sinh sống và làm ăn ngay, vợ chồng ở chung với bố mẹ anh đến khi cháu lớn là Vương Công N được 2 tuổi thì vợ chồng ra ở riêng.

Khi cháu N được 03 tuổi thì vợ chồng cùng nhau vào Niền N làm ăn, sinh sống. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong việc làm ăn kinh tế. Khi vào N vợ chồng vay vốn, mua máy may mở Công ty M, thuê công nhân. Khi công nhân may sai hàng khiến khách trả hàng yêu cầu sửa lại toàn bộ. Anh nói: “Giờ làm ăn thế này thì lấy tiền đâu mà đền” thì chị T1 cãi lại, vùng vằng vứt hàng đi, anh có tát chị T1 01 cái. Từ đó không ai nói chuyện, không ai quan tâm đến ai. Sau đó anh bỏ về quê thôn G, xã A (nay là tổ dân phố G, phường M, tỉnh Bắc Ninh) sinh sống. Khoảng 02 tháng sau, anh vào N thì thấy chị T1 đang chung sống với người đàn ông tên là Nguyễn Văn T2 quê ở Thanh Hóa làm nghề thu mua ve chai, sống cạnh nhà chị T1. Anh đã thuê trọ ra ở riêng mà không ở cùng với chị T1 nữa, cũng không kinh doanh may với chị T1 nữa mà đi làm xây. Thời gian ở nhà trọ thỉnh thoảng anh đến đón con đi chơi mà không hỏi han gì chị T1, chị T1 cũng không quan tâm anh, không gọi anh về nhà chung sống. Sau đó anh về quê tại tổ dân phố G, phường M, tỉnh Bắc Ninh sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay.

Anh và chị T1 đã nhiều lần nói chuyện nhưng vợ chồng chỉ nói chuyện được một hai câu thì chị T1 lại chửi bới, sỉ vả anh và gia đình anh, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Hiện nay chị T1 đã có con riêng với ông T2. Thỉnh thoảng chị T1 cũng có về nhà vào các dịp lễ Tết hay gia đình có công việc. Anh xác định không thể tiếp tục chung sống với chị T1 được vì vợ chồng không còn tình cảm, vợ chồng sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay, anh đề nghị được ly hôn chị T1.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vương Công N, sinh ngày 05/9/2004 và Vương Thị Nguyệt Á, sinh ngày 06/11/2007. Hiện nay 02 con chung đã trưởng thành, anh không đề cập nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung, công nợ: Anh trình bày không có.

Phía bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã kết hợp cùng chính quyền địa phương đến nhà chị T1 để lấy lời khai, nhưng chị T1 không có nhà, do vậy Tòa án không lấy lời khai của chị T1 được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật, không có mặt theo giấy triệu tập, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 đã trầm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho anh T được ly hôn chị T1.

- Về con chung: Các con chung đã trưởng thành nên không xem xét.

- Về tài sản chung, công nợ: Không có nên không xem xét.

- Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Vương Văn T xin ly hôn chị Nguyễn Thị T1, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình và Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, điều 28; điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Anh Vương Văn T kết hôn với chị Nguyễn Thị T1 ngày 21/11/2003, đã tuân đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong việc làm ăn kinh tế. Vợ chồng mở Công ty may, thợ may hỏng hàng nên khách trả lại hàng, anh có nói thì chị T1 cãi lại, vùng vằng vứt hàng đi, anh có tát chị T1 01 cái. Vợ chồng chỉ nói chuyện với nhau được một, hai câu thì chị T1 lại chửi bới, sỉ vả anh và gia đình anh. Từ đó vợ chồng không ai nói chuyện, quan tâm gì đến ai, chị T1 đã có con với người đàn ông khác, vợ chồng sống ly thân từ năm 2008 đến nay, anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với chị T1.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho chị T1, nhưng chị T1 vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Việc chị T1 vắng mặt được coi là trường hợp cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện.

Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T, chị T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân từ năm 2008 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn, do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T, xử cho anh T được ly hôn với chị T1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vương Công N, sinh ngày 05/9/2004 và Vương Thị Nguyệt Á, sinh ngày 06/11/2007. Hiện nay cả 02 con chung đều đã trưởng thành nên không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ: Không có nên không xem xét.

Tại phiên tòa, chị T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ điều 235, 264, 266, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vương Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.

2. Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét.

3. Về tài sản chung, công nợ: Không có nên không xem xét.

4. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001729, ngày 06/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh). Anh T đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ