- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thạch Kim H - Sơn Thị Mỹ L"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2026/HNGĐ-ST Ngày: 23/03/2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Phát, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.
Trong ngày 23 tháng 03 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2026 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Thạch Kim H, sinh ngày 09/09/1986. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Chị Sơn Thị Mỹ L, sinh ngày 01/01/1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn anh Thạch Kim H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Sơn Thị Mỹ L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) vào ngày 05/07/2008, và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong cuộc sống anh và chị L có nhiều mâu thuẫn với nhau, anh thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau như vợ chồng được nữa. Vụ việc mâu thuẫn giữa hai vợ chồng anh không ai biết, anh và chị L đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Anh H yêu cầu được ly hôn với chị Sơn Thị Mỹ L.
Về con chung: Anh và chị Sơn Thị Mỹ L có ba đứa con chung tên Thạch Thị Mỹ N, sinh ngày: 25/10/2005 đã có gia đình ở riêng nên anh không yêu cầu xem xét giải quyết; còn hai đứa con Thạch H1, sinh ngày: 13/8/2008 và Thạch Thị Mỹ D, sinh ngày: 23/10/2014 thì anh dành quyền nuôi cho hai đứa con khôn lớn và trưởng thành do các con đang sống chung với cha là anh, anh không yêu cầu người mẹ Sơn Thị Mỹ L cấp dưỡng hai đứa con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn: Anh H không yêu cầu xem xét.
Anh H xin được xét xử vắng mặt vì điều kiện đi lại xa nên không thể có mặt khi Tòa án triệu tập.
2/ Bị bơn chị Sơn Thị Mỹ L: Chị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Thạch Kim H nhưng chị L không có ý kiến phản đối, cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn anh Thạch Kim H khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với chị Sơn Thị Mỹ L cư trú tại ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ. Nên Tòa án xác định loại kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về vắng mặt đương sự: Nguyên đơn anh Thạch Kim H vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn chị Sơn Thị Mỹ L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Thạch Kim H và chị Sơn Thị Mỹ L là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ngày 05/07/2008 anh H và chị L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị L là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong cuộc sống hôn nhân giữa anh H và chị L, theo anh H nhận thấy giữa anh H và chị L có nhiều mâu thuẫn với nhau, anh thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau như vợ chồng được nữa, anh H và chị L đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nên anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị Sơn Thị Mỹ L. Chị L không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của anh H. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của anh H và chị L đã không còn sự quan tâm, thương yêu dành cho nhau, không còn tin tưởng nhau, anh chị đã ly thân với nhau từ nay 2021 đến nay không thể hàn gắn, mâu thuẫn giữa anh H và chị L là trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Thạch Kim H được ly hôn với chị Sơn Thị Mỹ L.
Về con chung: Anh Thạch Kim H và chị Sơn Thị Mỹ L có ba con chung là cháu Thạch Thị Mỹ N, sinh ngày: 25/10/2005 đã có gia đình ở riêng nên anh H không yêu cầu xem xét giải quyết; còn hai đứa con Thạch Hậu, sinh ngày 13/8/2008 và Thạch Thị Mỹ D, sinh ngày 23/10/2014 đang sống chung với anh H, anh H yêu cầu được nuôi hai đứa con chung, chị L không có ý kiến phản đối; các cháu H1 và D hiện nay đều hơn 07 tuổi và đều có nguyện vọng sống chung với cha là anh H. Xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Giữa anh H và chị L không thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định về việc giao con cho ai nuôi dưỡng. Do các cháu H1 và D hiện nay đều hơn 07 tuổi và đều có nguyện vọng sống chung với cha là anh H, các cháu cũng đang được anh H trực tiếp nuôi dưỡng nên cần tôn trọng nguyện vọng của các cháu, ổn định môi trường sống, ổn định tâm lý trẻ em nên quyết định giao các cháu H1 và D cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật cho chị Sơn Thị Mỹ L theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc anh Thạch Kim H phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000528, ngày 09/01/2026 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Chị Sơn Thị Mỹ L không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Thạch Kim H được ly hôn với chị Sơn Thị Mỹ L.
2/ Về con chung: Giao các cháu Thạch H1, sinh ngày 13/8/2008 và Thạch Thị Mỹ D, sinh ngày 23/10/2014 cho anh Thạch Kim H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Chị Sơn Thị Mỹ L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Còn cháu Thạch Thị Mỹ N, sinh ngày 25/10/2005 đã trưởng thành, không đặt ra xem xét, giải quyết.
3/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4/ Về án phí sơ thẩm:
Buộc anh Thạch Kim H phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Thạch Kim H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000528, ngày 09/01/2026 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Chị Sơn Thị Mỹ L không phải chịu án phí.
5/ Quyền kháng cáo: Các đương sự đều vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
6/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 7 – Cần Thơ; - Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ; - Phòng THADS khu vực 7 – Cần Thơ; - Các đương sự; - UBND xã T, TPCT; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Vàng |